Điện thoại CSKH: 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An > Uncategorized > Bệnh loãng xương: những điều cần biết

Bệnh loãng xương: những điều cần biết

  Loãng xương hiện nay là một vấn đề y tế và xã hội của mọi quốc gia do tần suất loãng xương trong cộng đồng tương đương với tần suất mắc bệnh tim mạch và ung thư. Loãng xương diễn biến thầm lặng, nhưng có thể gây nên hậu quả nặng nề như gãy xương, từ đó người bệnh sẽ bị tàn phế, mất khả năng lao động, giảm tuổi thọ…. Loãng xương ảnh hưởng đến 200 triệu phụ nữ trên toàn thế giới, hơn 75 triệu người ở Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản . Tỷ lệ loãng xương ở đàn ông Châu Á trên 50 tuổi là 12,6% .Ở Việt Nam, con số loãng xương ước tính là 2,8 triệu người, chiếm 30% phụ nữ trên 50 tuổi và khoảng 20 % nam giới trên 60 tuổi. Hàng năm có 17.000 ca ở nữ và 6.300 ca ở nam gãy cổ xương đùi và con số này sẽ tăng lên gấp 2 lần trong vòng 20 năm tới . Như vậy, hậu quả của bệnh loãng xương là khá nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, kinh tế – xã hội của toàn cộng đồng.

  1. Khái niệm về loãng xương:

Loãng xương được biết đến từ thời Ai Cập cổ đại năm 990 – TCN. Tuy nhiên, định nghĩa về loãng xương được Tổ chức Y tế Thế giới chính thức đưa ra vào năm 1991, tại Thụy Sĩ, và tiếp tục hoàn thiện cập nhật vào năm 2001. Loãng xương là một tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương làm giảm sức mạnh của xương dẫn đến làm tăng nguy cơ gãy xương. Sức mạnh của xương được phản ánh thông qua hai yếu tố: khối lượng xương và chất lượng xương. Đo mật độ xương sẽ cho ta biết lượng chất khoáng trong 1 đơn vị diện tích hoặc thể tích của xương. coque iphone pas cher Còn chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, tốc độ chuyển hóa của xương, độ khoáng hóa, mức độ tổn thương tích lũy, tính chất của các chất cơ bản của xương.

  1. Phân loại loãng xương:

Theo nguyên nhân, loãng xương được chia làm hai loại: * Loãng xương nguyên phát: Là loại loãng xương không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác và hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Cơ chế là do quá trình lão hóa của tạo cốt bào gây nên tình trạng mất cân bằng giữa huỷ xương và tạo xương, kết quả là thiểu sản xương. – Loãng xương nguyên phát gồm 2 týp: + Loãng xương týp 1 (hay Loãng xương sau mãn kinh): nguyên nhân là do giảm nội tiết tố oestrogen, ngoài ra còn có sự giảm tiết hormon tuyến cận giáp trạng, tăng thải calci niệu, suy giảm hoạt động của enzym 25-OH-vitamin D1-hydroxylase. Thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 50 – 55, đã mãn kinh. Tổn thương chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp, biểu hiện là sự lún của các đốt sống hoặc gãy xương Pouteau-Colles. coque iphone + Loãng xương týp 2 (hay loãng xương tuổi già): Là loãng xương liên quan tới tuổi và tình trạng mất cân bằng tạo xương. Loại loãng xương này xuất hiện ở cả 2 giới nam và nữ, độ tuổi khoảng trên 70. Đặc điểm của loại loãng xương này là mất chất khoáng toàn thể cả ở xương xốp (xương bó) và xương đặc (xương vỏ). coque iphone 2019 Thường là bệnh nhân hay bị gãy cổ xương đùi. Cơ chế gây loãng xương là do tình trạng giảm hấp thu calci, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát. * Loãng xương thứ phát: Là loại loãng xương tìm thấy được nguyên nhân liên quan đến một số bệnh mạn tính, liên quan đến sử dụng một số loại thuốc…. – Các nguyên nhân gây loãng xương thứ phát: + Bệnh nội tiết: Cường giáp, đái tháo đường, bệnh to đầu chi… + Bệnh tiêu hóa: Cắt dạ dày, thiếu dinh dưỡng, bệnh gan mạn tính. + Bệnh khớp: Viêm khớp dạng thấp, bệnh lý cột sống… + Bệnh ung thư: Kahler… + Bệnh di truyền: bệnh nhiễm sắc tố sắt… soldes coque iphone + Sử dụng corticoid, heparin, dùng lợi tiểu kéo dài… anh-01

  1. Chẩn đoán loãng xương:

Theo TCYTTG – 1994, loãng xương được định nghĩa dựa trên mật độ chất khoáng của xương (Bone Mineral Density – BMD) theo chỉ số T-Score. T-Score của một cơ thể là chỉ số mật độ xương của cơ thể đó so với mật độ xương của nhóm người trẻ tuổi làm chứng. + Xương bình thường: T- score ≥ – 1, tức là lượng chất khoáng xương (BMD) của người được đo bằng và trên – 1 độ lệch chuẩn (-1SD) so với giá trị trung bình của người trưởng thành độ tuổi 20 – 35 tuổi trong cộng đồng. + Thiếu xương (Osteopenia): – 1 > T- score > – 2,5, tức là BMD của người được đo trong khoảng – 1 đến – 2,5 SD so với giá trị trung bình của của người trưởng thành độ tuổi 20 – 35 tuổi trong cộng đồng. + Loãng xương (Osteoporosis): T – score ≤ – 2,5, tức là khi BMD của người được đo bằng và dưới ngưỡng -2,5SD so với giá trị trung bình của người trưởng thành độ tuổi 20 – 35 tuổi trong cộng đồng. + Loãng xương nặng: T-score ≤ -2,5SD và bệnh nhân có tiền sử hoặc hiện tại có một hay nhiều vị trí gãy xương. * Ai cần đo mật độ xương? Theo khuyến cáo của Hiệp hội chống loãng xương thế giới, những người trên 50 tuổi, có một trong những yếu tố sau nên đo mật độ xương: – Giảm chiều cao ≥ 3cm (so với độ tuổi 20-30). – Cân nặng dưới 40 kg, hay giảm trọng lượng quá nhanh trong thời gian gần đây. – Thiếu estrogen ở nữ như sau khi mãn kinh, cắt buồng trứng. Hoặc thiếu androgen ở nam trên 50 tuổi. – Tiền sử gãy xương: Có cha mẹ hoặc bản thân đã bị gãy cổ xương đùi sau một chấn thương nhẹ ở tầm thấp. – Tiền sử hoặc hiện tại có dùng corticoid liều bất kỳ liên tục trong thời gian trên 3 tháng. – Sử dụng chất kích thích: Uống rượu: ≥ 8g cồn tinh hoặc 375ml bia 60 hoặc 30ml rượu mạnh/ ngày; Hay hút thuốc lá ≥ 20 điếu/ ngày. * Máy đo mật độ xương tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An: Hiện nay tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An đang được trang bị máy đo mật độ xương Hologic Discovery ( Mỹ) hiện đại bậc nhất. anh-02

  1. Các phương pháp điều trị loãng xương:

Mục tiêu cơ bản của dự phòng và điều trị loãng xương là ngăn chặn tình trạng gãy xương. Điều đó có thể đạt được bằng cách: – Tăng cường khối lượng xương trong giai đoạn phát triển xương. – Ngăn chặn sự mất xương. – Phục hồi vô cơ hóa xương và cấu trúc xương đã có loãng xương. 4.1. Các biện pháp không dùng thuốc: Cần thay đổi lối sống, một số thói quen sinh hoạt là góp phần quan trọng vào việc tăng sức khỏe cho bộ xương của mỗi người. – Tập luyện thể lực, thể thao thường xuyên: + Tập chịu đựng sức nặng của cơ thể như đi bộ, chạy bộ, khiêu vũ… + Tập sức mạnh cho cơ: Tập kháng lực, nhấc vật nặng phù hợp với khả năng của từng người nếu không có chống chỉ định. – Đảm bảo chế độ ăn giàu canxi trong suốt cuộc đời. Nếu cần, có thể sử dụng cả thuốc để bổ xung canxi và vitamin D. coque iphone pas cher Tránh sử dụng chất kích thích như cà phê, rượu, bia, không hút thuốc lá… 4.2. Các biện pháp dùng thuốc: * Thuốc bổ sung bắt buộc: + Đảm bảo đủ lượng canxi đưa vào cơ thể 1.000 – 1200mg/ ngày. + Đảm bảo đủ lượng vitamin D đưa vào cơ thể 800 – 1.000IU/ ngày. * Các thuốc chống hủy xương: Ức chế hoạt động của tế bào hủy xương. – Thuốc nhóm Biphosphonate: là nhóm thuốc lựa chọn đầu tiên để điều trị loãng xương ở người cao tuổi (> 60 tuổi), phụ nữ sau mãn kinh, sau dùng corticosteroid. coque iphone 7 + Alendronate: Fosamax plus (Alendronate 70mg + Cholecalciferol 2.800IU) hoặc Fosamax 5600 (Alendronate 70mg + Cholecalciferol 5.600IU). Liều lượng: 1 viên/ tuần + Zoledronic acid (Aclasta, 5mg/ 100ml) Liều lượng: 1 chai 5mg/ năm, liều duy nhất. + Calcitonine: Chỉ định: bệnh nhân mới có gãy xương kèm đau xương nhiều do loãng xương. Cần kết hợp điều trị cùng nhóm biphosphonate. Liều lượng: 50-100IU/ ngày, trong vòng 10-15 ngày/ đợt điều trị. – Chất điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen (SERMs): Raloxifen (Evista). + Chỉ định: phụ nữ loãng xương sau mãn kinh. * Các nhóm thuốc khác: – Thuốc làm tăng quá trình đồng hóa: Deca-Durabulin và Durabolin. – Thuốc ức chế osteocalcin: Menatetrenon (vitamin K2). 4.3. Điều trị các biến chứng: – Điều trị đau: Theo bậc thang giảm đau của TCYTTG kết hợp với Calcitonine. – Gãy xương: Đeo nẹp, bơm xi măng vào thân đốt sống hoặc thay đốt sống nhân tạo, kết xương hoặc thay khớp (nếu có chỉ định).

  1. Theo dõi, quản lý:

– Bệnh nhân phải được điều trị lâu dài và theo dõi sát để bảo đảm sự tuân thủ điều trị. Nếu không tuân thủ điều trị, sẽ không có hiệu quả điều trị – Có thể sử dụng một số markers chu chuyển xương để hỗ trợ chẩn đoán, tiên lượng gãy xương, tiên lượng tình trạng mất xương và theo dõi điều trị. – Đo khối lượng xương (phương pháp DXA) mỗi 1- 2 năm để theo dõi và đánh giá kết quả điều trị. – Thời gian điều trị phải kéo dài từ 3 – 5 năm (tùy mức độ loãng xương), sau đó đánh giá lại tình trạng bệnh và quyết định các trị liệu tiếp theo.

  1. Phòng bệnh:

Loãng xương là bệnh có thể phòng ngừa : – Cung cấp đầy đủ canxi, vitamin D và các dưỡng chất cần thiết chung cho cơ thể trong suốt cuộc đời, theo nhu cầu của từng lứa tuổi và tình trạng cơ thể. – Duy trì chế độ vận động thường xuyên giúp dự trữ canxi cho xương, tăng sự khéo léo, sức mạnh cơ, sự cân bằng để giảm khả năng té ngã và gẫy xương. – Hạn chế một số thói quen: hút thuốc lá, uống nhiều rượu, nhiều cà phê, ít vận động… – Khi bệnh nhân nguy cơ loãng xương (BMD từ -1,5 đến – 2,4 SD), nhưng lại có nhiều yếu tố nguy cơ: phải dùng corticosteroid để điều trị bệnh nền, tiền sử gia đình có gẫy xương do loãng xương, nguy cơ té ngã cao…, bisphosphonates có thể được chỉ định để phòng ngừa loãng xương.

ThS.BS.