/ TÀI LIỆU / Hướng dẫn

Hướng dẫn

Những điều cần biết về hiến- ghép mô, bộ phận cơ thể người

Ghép tạng là phương pháp điều trị cuối cùng và hiệu quả cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối bằng cách lấy tạng của người hiến để ghép cho người bệnh. Ngoài thận và gan có thể hiến tặng khi người hiến còn sống, hầu hết các mô và tạng khác chỉ được lấy và ghép cho người bệnh khi người hiến mô, tạng đã chết, chết não. Một người chết não hiến tạng có thể cứu sống cho hơn 10 người khác.

Đọc tiếp »

Hướng dẫn dự phòng và cấp cứu shock phản vệ do dùng thuốc cản quang

nước ta có khoảng 8.5% dân số từng bị dị ứng thuốc, trong số này có 10% bị sốc phản vệ, như vậy sốc phản vệ do thuốc chiếm khoảng 0.85%. Phản vệ có thể xuất hiện sau vài phút thường là trong vòng giờ đầu tiên sau khi bệnh nhân tiếp xúc với dị nguyên. Thuốc cản quang được xem như là một trong những dị nguyên gây phản vệ thườnggặp nhất trong bệnh viện. Mỗi năm tại toàn thế giới có hơn 70 triệu thăm dò chẩn đoán hình ảnh có sử dụng thuốc cản quang, riêng ở Mỹ có ít nhất 10 triệu người. Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh bao gồm: chụp tủy, chụp mạch (chụp mạch não), chụp tĩnh mạch, chụp tiết niệu, chụp đường mật ngược dòng (ERCP), chụp khớp gối, chụp CLVT. Phản vệ xảy ra chủ yếu khi dùng thuốc cản quang dạng tiêm truyền tĩnh mạch.

Đọc tiếp »

Cập nhật thông tin thuốc chứa acid Zoledronic và Hydroxyzin

Ngày 13/03/2015, Ủy ban Đánh giá Nguy cơ cảnh giác dược (PRAC) thuộc Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) thông báo đã hoàn thiện quá trình rà soát định kỳ độ an toàn đối với Acid Zoledronic, một thuốc thuộc nhóm biphosphonat được sử dụng để điều trị loãng xương và bệnh Paget xương. Hoại tử xương hàm là một tác dụng không mong muốn đã biết của thuốc. Theo PRAC, nguy cơ hoại tử xương hàm của acid Zoledronic còn ở mức thấp; tuy nhiên cần áp dụng thêm một số biện pháp để giảm thiểu nguy cơ này của thuốc bao gồm việc cập nhật một số thông tin về sản phẩm. PRAC khuyến cáo một số thông tin liên quan đến sản phẩm như sau:

Đánh giá nguy cơ tiến triển hoại tử xương hàm trên bệnh nhân, cần cân nhắc những yếu tố sau:

+Hoạt lực của chế phẩm thuốc gây ức chế tiêu xương (nguy cơ tăng theo hoạt lực của thuốc), đường dùng (nguy cơ cao hơn khi dùng thuốc đường tiêm và sự tích lũy thuốc.

+Ung thư, các bệnh mắc kèm (VD: thiếu máu, rối loạn đông máu, nhiễm khuẩn) và hút thuốc.

+Thuốc dùng đồng thời: corticosteroid, hóa trị liệu, các chất ức chế tạo mạch và xạ trị vùng đầu cổ.

+Vệ sinh răng miệng kém, bệnh nha chu, răng giả không khớp, tiền sử bệnh răng miệng hoặc tiến hành thủ thuật nha khoa xâm lấn như nhổ răng.

Giám sát khi sử dụng thuốc chứa hoạt chất Acid zoledronic:

+ Trì hoãn việc bắt đầu điều trị cho bệnh nhân hoặc bắt đầu một đợt điều trị mới đối với các bệnh nhân có tổn thương mô mềm tại miệng chưa lành cần can thiệp.

+ Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao hoại tử xương hàm khi sử dụng thuốc:

üđánh giá lợi ích – nguy cơ khi bắt đầu điều trị với Acid Zoledronic.

üthường xuyên kiểm tra các vấn đề răng miệng của bệnh nhân.

+ Trong quá trình sử dụng:

ükhuyến khích bệnh nhân duy trì vệ sinh răng miệng.

ükiểm tra sức khỏe răng miệng định kỳ

üthông báo ngay khi gặp các vấn đề răng miệng như: xô lệch răng, đau hoặc sưng răng, chảy mủ không lành trong quá trình điều trị.

üKhi tiến hành các thủ thuật nha khoa xâm lấn trên bênh nhân đang điều trị bằng Acid Zoledronic, cần được tiến hành thận trọng, cách xa thời điểm bệnh nhân sử dụng thuốc.

– Xử trí ADR:

+phối hợp chặt chẽ giữa bác sỹ điều trị và nha sỹ phẫu thuật răng miệng có chuyên môn về hoại tử xương hàm

+tạm ngưng điều trị cho bệnh nhân đến khi tình trạng hoại tử xương hàm cải thiện và các yếu tố nguy cơ giảm nhẹ.

Cập nhật thông tin thuốc chứa HydroxyZin:

Ngày 13/02/2015, Ủy ban Đánh giá Nguy cơ Cảnh giác dược (PRAC) thuôc cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) thông báo đã hoàn thiện quá trình rà soát độ ann toàn của Hyddroxyzin. Hydroxyzin có khả năng ức chế kênh hERG và một số loại kênh khác trong hẹ tim mạch dẫn đến nguy cơ kéo dài khoảng QT và rối loạn nhịp tim. Từ những dữ liệu lâm sàng và sau khi thuốc lưu hành ra thị trường ,PRAC cảnh báo việc sử dụng Hydroxyzin có liên quan đến một số nguy cơ tuy nhỏ nhưng chắc chắn là kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh. PRAC đưa ra một số thông tin dành cho cán bộ y tế như sau:

Tác dụng không mong muốn : Nguy cơ kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh

-Liều:Giới hạn sử dụng Hydroxyzin ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể.

+ Liều tối đa sử dụng là 100mg/ ngày; nếu bắt buộc sử dụng thuốc này ở người cao tuổi, liều tối đa được khuyến cáo là 50mg/ngày.

+ Liều tối đa ở trẻ em có cân nặng dưới 40 kg là 2mg/kg/ngày; trẻ em có cân nặng trên 40 khg sử dụng liều tương tự như người lớn.

-Chống chỉ định: + Bệnh nhân có kéo dài QT bẩm sinh hoặc mắc phải.

+ Có các yếu tố nguy cơ gây kéo dài khoảng QT như: bệnh tim mạch, rối loạn điện giải nghiêm trọng (hạ kali máu, hạ magnesi máu), tiền sử gia đình có người đột tử do nguyên nhân tim mạch, chậm nhịp tim nghiêm trọng hoặc đang sử dụng các thuốc có nguy cơ kéo dài khoảng QT hoặc gây xoắn đỉnh.

-Thận trọng: +Bệnh nhân cao tuổi do thuốc giảm thải trừ trên những bệnh nhân này.

+ Nhịp tim chậm.

+ Đang dùng các thuốc gây hạ kali máu

+ Dùng đồng thời với các thuốc ức chế alcohol dehydrogenase hoặc CYP3A4/5

DS. Hồ Trọng Toàn (Khoa Dược, BV HNĐK Nghệ An)

Cập nhật thông tin liên quan đến an toàn của thuốc chứa Codein, Ibuprofen, Dexiprofen

Cập nhật thông tin liên quan đến an toàn của thuốc chứa Codein, Ibuprofen, Dexiprofen

Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế có công văn số 18905/QLD-TT gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Bệnh viện, Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế yêu cầu thông báo cho các cơ sở khám chữa bệnh, các đơn vị kinh doanh dược phẩm trên địa bàn các thông tin liên quan đến độ an toàn, hiệu quả và kết luận của Hội đồng tư vấn cấp số đăng ký lưu hành thuốc đối với: thuốc chứa Codein, thuốc chứa Ibuprofen, Dexibuprofen.

Những điều cần biết về hiến- ghép mô, bộ phận cơ thể người

Những điều cần biết về hiến- ghép mô, bộ phận cơ thể người

Ghép tạng là phương pháp điều trị cuối cùng và hiệu quả cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối bằng cách lấy tạng của người hiến để ghép cho người bệnh. Ngoài thận và gan có thể hiến tặng khi người hiến còn sống, hầu hết các mô và tạng khác chỉ được lấy và ghép cho người bệnh khi người hiến mô, tạng đã chết, chết não. Một người chết não hiến tạng có thể cứu sống cho hơn 10 người khác.

Ghép thận tại Bệnh viện HNĐK Nghệ An

* Ai có thể tham gia vào danh sách hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người (tạng) tiềm năng?

– Bất kỳ ai đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đều có quyền hiến tặng mô, tạng khi còn sống hoặc đăng ký vào danh sách hiến tặng mô, tạng tiềm năng (Hiến tặng sau khi chết, chết não).

– Những người cao tuổi đều có thể hiến tặng một phần mô, tạng và giác mạc sau khi chết, chết não.

– Đừng bao giờ nghĩ mình không đủ sức khỏe hoặc quá già để đăng ký hiến tặng mô, tạng sau khi chết, chết não.

Pháp luật quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có quyền hiến mô, tạng bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết. (Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác).

* Cơ quan nào điều phối việc hiến, lấy, ghép mô, tạng của Việt Nam?

Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người (Trung tâm điều phối ghép tạng Quốc gia) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế, được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập có nhiệm vụ chính trong việc điều phối việc lấy, ghép mô, tạng để cứu chữa người bệnh theo đúng quy định của pháp luật và đạo đức.

Nụ cười của bệnh nhân sau khi được ghép tim tại BV Việt Đức ngày 5/9

* Làm thế nào để đăng ký hiến mô, tạng hoặc hiến xác? Những cơ sở nào được phép lấy và ghép mô, tạng?

+ Nếu một người muốn đăng ký hiến tặng mô, tạng khi còn sống hoặc sau khi chết/chết não thì Người đó có thể đến cơ sở y tế gần nhất để bày tỏ ý nguyện đó. Cơ sở y tế sẽ có trách nhiệm tiếp nhận thông tin để báo về Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia và Trung tâm sẽ thông tin đến cơ sở y tế có chức năng phù hợp để tiếp nhận đơn đăng ký hiến tặng mô, tạng khi còn sống hoặc sau khi chết/chết não và hoàn tất thủ tục pháp lý, tư vấn, cấp thẻ đăng ký hiến tặng mô, tạng (hiến sau khi chết/chết não).

+ Hoặc người hiến có thể trực tiếp tới cơ sở y tế có chức năng lấy, ghép mô, tạng để đăng ký hiến (khi còn sống hoặc sau khi chết): BV Hữu nghị Việt Đức; BV Quân Y 103; BV Nhi TW; BV Bạch Mai; BV 198 – Bộ Công an; BVĐK Xanh Pôn; BVĐK Phú Thọ; BV TW Huế; BVĐK Đà Nẵng; BV Chợ Rẫy; BV Nhi đồng 2; BV Nhân dân Gia Định; ĐH Y dược Tp. Hồ Chí Minh; BV Nhân dân 115; BVĐK Kiên Giang

+ Nếu người hiến muốn đăng ký hiến mô, thì có thể liên hệ trực tiếp đến một trong các ngân hàng mô sau: Ngân hàng Giác mạc-BV Mắt TW; Trung tâm mô, phôi – ĐH Y Hà Nội; Ngân hàng Mô- BV Bỏng Lê Hữu Trác; ĐH Y Phạm Ngọc Thạch; Ngân hàng tế bào gốc: Mekophar

+ Nếu người hiến muốn đăng ký hiến xác thì có thể liên hệ trực tiếp đến một trong các trường ĐH y để đăng ký hiến xác: ĐH Y Hà Nội; ĐH Y Thái Nguyên; ĐH Y Thái Bình; ĐH Y Hải Phòng; Học viện Quân Y (Bộ môn Giải phẫu); ĐH Y Huế (Bộ môn Giải phẫu); ĐH Y Tây Nguyên; ĐH Y Cần Thơ (Bộ môn Giải phẫu); ĐH Y dược TP HCM (Bộ môn Giải phẫu); ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Bộ môn giải phẫu)

Ngoài ra, một cách đơn giản hơn, Người hiến có thể tới hoặc liên hệ trực tiếp với Trung tâm Điều phối ghép tạng Quốc gia để được tư vấn, trợ giúp hoặc hỗ trợ trực tiếp để đăng ký hiến tạng khi còn sống hoặc cấp thẻ ghi nhận đăng ký hiến tặng mô, tạng (sau khi chết/chết não).

* Cách thức đăng ký hiến tặng mô, tạng?

Việc đăng ký hiến mô, tạng khi còn sống hoặc sau khi chết/chết não phải được thể hiện qua đơn tình nguyện hiến tặng theo quy định của pháp luật. Và xin lưu ý thêm là trong mẫu đơn đăng ký không quy định bắt buộc phải có sự đồng ý thân nhân người đăng ký hiến tặng… . Tuy nhiên, trên thực tế nếu việc đăng ký hiến mô, tạng khi còn sống hoặc sau khi chết/chết não mà gia đình không biết sẽ rất khó khăn trong việc báo tin cho cơ sở y tế biết để tiếp nhận mô, tạng hoặc thậm chí nếu gia đình sẽ phản đối thì người đăng ký hiến không thực hiện được nguyện vọng của mình. Vì vậy, chúng tôi khuyến khích Bạn nên chủ động trao đổi nguyện vọng hiến tặng của mình cùng gia đình để nhận được sự ủng hộ. Việc trao đổi vừa là để giải quyết về mặt tình cảm, vừa là để chắc chắn rằng, tâm nguyện đó sẽ được người thân thực hiện.

Tất nhiên, việc hiến tặng mô, tạng là tự nguyện, là quyền nhân thân, do đó trong mọi trường hợp, nếu muốn thay đổi quyết định, thì Bạn chỉ cần ký đơn từ chối hiến tặng gửi về cơ sở y tế nơi cấp thẻ đăng ký hiến tặng mô tạng ban đầu là được đưa ra khỏi danh sách đăng ký hiến tặng. Đấy cũng là sự công bằng của pháp luật, luôn tôn trọng quyền nhân thân tối cao.

Các bác sĩ BV Việt Đức đang thực hiện ca ghép tim

* Quyền lợi của người hiến tạng?

Quyền lợi của người hiến mô?

Người đã hiến mô (khi còn sống) được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi thực hiện việc hiến mô tại cơ sở y tế. Người hiến mô sau khi chết (giác mạc): Người hiến giác mạc sẽ được tôn vinh, gia đình người hiến giác mạc sẽ được trao tặng bằng ghi nhận nghĩa cử cao đẹp. Thân nhân người hiến tặng giác mạc sẽ được ưu tiên trong khám, chữa mắt và đặc biệt được ưu tiên ghép giác mạc trong trường hợp họ bị mắc bệnh về giác mạc và cần phải ghép thay thế.

Quyền lợi của người hiến tạng khi còn sống?

Được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi thực hiện việc hiến tạng tại cơ sở y tế và được khám sức khỏe định kỳ miễn phí; Được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; Được ưu tiên ghép mô, tạng khi có chỉ định ghép của cơ sở y tế; Được tặng Kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân.

Quyền lợi của người hiến tạng sau khi chết, chết não, hiến xác?

Người đã hiến tạng sau khi chết, chết não, hiến xác được truy tặng Kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân.

*Trường hợp nào bị cấm hiến, lấy, ghép tạng?

Theo quy định tại điều 5 của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác thì chỉ những người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác. Như vậy, nếu không đủ các điều kiện trên, sẽ bị nghiêm cấm hiến, lấy và ghép tạng.

Bên cạnh đó, việc hiến tặng mô, tạng còn phải bảo đảm nguyên tắc:Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép; Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học; Không nhằm mục đích thương mại; Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, việc hiến, lấy, ghép tạng còn phải tuân thủ quy định tại Điều 11 (Các hành vi bị nghiêm cấm) của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác như: Lấy trộm mô, bộ phận cơ thể người; lấy trộm xác; Ép buộc người khác phải cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơ thể của người không tự nguyện hiến; Mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; mua, bán xác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại; Lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới mười tám tuổi; Ghép mô, bộ phận cơ thể của người bị nhiễm bệnh theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định; Cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người khác giới có họ trong phạm vi ba đời; Quảng cáo, môi giới việc hiến, nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại; Tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép trái với quy định của pháp luật; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm sai lệch kết quả xác định chết não.

Hiến tạng để làm gì?

Theo ThS Nguyễn Hoàng Phúc- phó giám đốc Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người: Nhu cầu ghép mô, tạng ở Việt Nam là rất lớn, cả nước hiện có khoảng 6.000 người bị suy thận mạn cần được ghép thận. Về ghép gan, chỉ tính tại một số bệnh viện lớn ở Hà Nội đã có trên 1.500 người có chỉ định ghép gan. Hiện cả nước có khoảng 300.000 người mù do các bệnh lý giác mạc và trên 6.000 người đang chờ được ghép giác mạc và hàng trăm người chờ được ghép tim, phổi…

Ghép tạng là phương pháp điều trị cuối cùng và hiệu quả cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối bằng cách lấy tạng của người hiến để ghép cho người bệnh. Ngoài thận và gan có thể hiến tặng khi người hiến còn sống, hầu hết các mô và tạng khác chỉ được lấy và ghép cho người bệnh khi người hiến mô, tạng đã chết, chết não. Một người chết não hiến tạng có thể cứu sống cho hơn 10 người khác.

Địa chỉ tư vấn và đăng ký hiến tặng mô, tạng:

– Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người: 40 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội:

Tel: 04.39386692-04 39386693/091.50.60.550

Email: gheptang@vncchot.com

– Đơn vị điều phối ghép các bộ phận cơ thể người-Bệnh viện Chợ Rẫy

Tel: 08.39560139/0838554137-184; 0913677016

Email: dieuphoigheptangbvcr@gmail.com

– Ngân hàng Mắt-Bệnh viện Mắt Trung ương: 85 Bà Triệu, Hà Nội

Tel: 04.39454799; Email: info@vnio-eyebank.org.vn

Hướng dẫn dự phòng và cấp cứu shock phản vệ do dùng thuốc cản quang

Hướng dẫn dự phòng và cấp cứu shock phản vệ do dùng thuốc cản quang

Sốc phản vệ là tai biến dị ứng nghiêm trọng nhất, dễ gây tử vong nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Ở nước ta có khoảng 8.5% dân số từng bị dị ứng thuốc, trong số này có 10% bị sốc phản vệ, như vậy sốc phản vệ do thuốc chiếm khoảng 0.85%. Phản vệ có thể xuất hiện sau vài phút thường là trong vòng giờ đầu tiên sau khi bệnh nhân tiếp xúc với dị nguyên. Thuốc cản quang được xem như là một trong những dị nguyên gây phản vệ thườnggặp nhất trong bệnh viện. Mỗi năm tại toàn thế giới có hơn 70 triệu thăm dò chẩn đoán hình ảnh có sử dụng thuốc cản quang, riêng ở Mỹ có ít nhất 10 triệu người. Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh bao gồm: chụp tủy, chụp mạch (chụp mạch não), chụp tĩnh mạch, chụp tiết niệu, chụp đường mật ngược dòng (ERCP), chụp khớp gối, chụp CLVT. Phản vệ xảy ra chủ yếu khi dùng thuốc cản quang dạng tiêm truyền tĩnh mạch.

Chụp hệ niệu quản có sử dụng thuốc cản quang

Phản ứng quá mẫn với thuốc cản quang thường không liên quan đến liều và tốc độ tiêm thuốc, có thể xuất hiện ngay cả khi chỉ tiếp xúc với một lượng nhỏ dị thuốc cản quang. Kiểu phản ứng có thể được chia làm nhiều thể khác nhau chủ yếu là quá mẫn tức thì.Triệu chứng của quá mẫn tức thì với thuốc cản quang: Triệu chứng xuất hiện trong vòng một giờ. Bừng mặt, ngứa mày đay cấp, phát ban, phù mạch, co thắt phế quản và thở rít, phù thanh quản và rút lõm lồng ngực, tụt huyết áp và sốc, mất ý thức. Nhận thức được mối nguy cơ của sốc phản vệ và tình trạng shock phản vệ do dùng thuốc cản quang khi chụp CT scanner, bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An đã có những hướng dẫn củ thể để giúp cho bác sĩ, kĩ thuật viên, điều dưỡng viên có thể ngăn ngừa phát hiện sớm, xử trí kịp thời sốc phản vệ do dùng thuốc cản quang gây ra.Nội dung củ thể như sau:

1.Các Khoa khi chỉ định bệnh nhân chụp X quang có sử dụng thuốc cản quang chứa iod(CT scanner, UIV…)có trách nhiệm:

– Chỉ định chụp CT scanner, UIV …khi thật sự cần thiết cho chẩn đoán và điều trị bệnh.

– Cần khai thác kỹ tiền sử dị ứng của bệnh nhân như hen phế quản,chàm, mẩn ngứa, phù quincke…các dị nguyên như thuốc, thức ăn, côn trùng gây ra dị ứng và shock phản vệ.

– Phát hiện các yếu tố nguy cơ cao và cân nhắc dự phòng shock phản vệ khi sử dụng thuốc cản quang đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao như:

· Tiền sử trước đó đã có dị ứng với thuốc cản quang chứa iod.

· Có bệnh lý hen phế quản.

· Bệnh nhân đang sử dụng thuốc chẹn beta (atenolol, metoprosol, propranolol…)cần phải ngừng sử dụng thuốc hoàn toàn trước khi tiến hành tiêm thuốc cản quang.

– Với những đối tượng có yếu tố nguy cơ cao nhưng cần chụp CT scanner, UIV… thì phải hội chẩn để thống nhất chỉ định và được sự đồng ý của người bệnh, gia đình người bệnh bằng văn bản, có biện pháp tích cực để phòng ngừa shock phản vệ.

– Dự phòng shock phản vệ do thuốc cản quang cho các đối tượng có nguy cơ cao theo đúng phác đồ.

– Tùy vào tình trạng của bệnh nhân, các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân, yêu cầu khoa bố trí điều dưỡng đưa bệnh nhân đi chụp chiếu và theo dõi sát bệnh nhân sau khi dùng thuốc cản quang ít nhất 30 phút.

2. Khoa X – Quang xử trí shock phản vệ theo phác đồ:

– Tủ thuốc cấp cứu tại các phòng chụp phải có đủ cơ số thuốc theo quy định, chẩn đoán và cấp cứu shock phản vệ khẩn trương, đúng phác đồ

2.1Phác đồ dự phòng shock phản vệ di dùng thuốc cản quang

Greenberger Protocol

Prednisolon 50mg (đường uống), 3 liều, mỗi liều cách nhau 6 giờ, bắt đầu 13 giờ trước dùng thuốc cản quang. Cụ thể:

ü Liều 1: Prednisolon 50 mg(Uống)13 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang.

ü Liều 2: Prednisolon 50 mg(Uống)7 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang.

ü Liều 3: Prednisolon 50 mg(Uống) 1 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang.

Ngoài ra, một số corticoid khác có thể thay thế:

ü 8 mg Dexamethason(Uống) 3 liều, bắt đầu 13 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang.

Hoặc

ü 200 mg Hydrocortison (Tiêm TM) 3 liều, bắt đầu 13 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang (khi bệnh nhân ưu tiên dùng đường TM hơn).

Hoặc

ü 40 mg Methylprednisolon(Tiêm TM) 3 liều, bắt đầu 13 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang (khi bệnh nhân ưu tiên dùng đường TM hơn).

Trường hợp khẩn cấp(khi không đủ 13 giờ để sử dụng Greenberger Protocol)

ü Solu-medrol 60 mg (Tiêm TM), 2 liều, mỗi liều cách nhau 4 giờ, bắt đầu trước 8 giờ tiêm thuốc cản quang.

ü Diphenhydramin 25-50 mg (Tiêm TM), sử dụng 1 giờ trước khi tiêm thuốc cản quang.

2.2Sơ đồ chẩn đoán và cấp cứu shock phản vệ

Phát hiện nhanh shock phản vệ: Khởi phát đột ngột sau khi tiếp xúc dị nguyên

· Cảm giác bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.

· Mày đay, ban đỏ toàn than, da tái lạnh, vã mồ hôi, sung phù môi mắt.

· Nghẹt thở, thở rít; đau quăn bụng, nôn mửa, đái ỉa không tự chủ; mạch nhanh, HA tụt, hôn mê.

Xử trí shock phản vệ theo nguyên tắc: Khẩn cấp, tại chổ, dùng ngay Adrenalin

Ngừng tiếp xúc dị nguyên ngay

· Adrenalin tiêm bắp ngay (mặt trước bên đùi là tốt nhất): Người lớn 0,5ml/lần, Trẻ em ≤ 0,3ml/lần (Adrenalin ống 1mg/ml). Tiêm nhắc lại sau mỗi 5 – 15 phút cho tới khi huyết áp trở lại bình thường.

· Adrenalin truyền TM: Liều 0,1mcg/kg/phút, nếu huyết động không cải thiện sau 2 – 3 lần tiêm bắp.

· Đặt người bệnh nằm ngửa, đầu thấp nghiêng trái nếu có nôn, đầu cao nếu khó thở.

· Thở oxy: 6 – 8 lít/phút, 1 – 6 lít cho trẻ em.

· Dịch truyền: Dung dịch NaCl 0,9%, người lớn 1000 – 2000ml, trẻ em 20ml/kg, có thể truyền dung dịch huyết tương, albumin hoặc cao phân tử.

· Đặt nội khí quản hoặc mở khí quản ngay nếu phù nề thanh môn.

· Gọi hỗ trợ.

· Salbutamol:Ống 5mg khí dung qua mask cho người lớn, ống 2,5mg cho trẻ em, nhắc lại khi cần hoặc truyền TM liều 0,1mcg/kg/phút.

· Methylprednisolon: Tiêm bắp hoặc TM 1-2mg/kg. Người lớn tối đa 125mg, trẻ em tối đa 100mg, có thể tiêm nhắc lại mỗi 4-6h.

· Dimedrol: Ống 10mg tiêm bắp hoặc TM. Người lớn 2 ống, trẻ em 1 ống, có thể tiêm nhắc lại mỗi 4-6h.

Kết luận

Phản vệ là một biến chứng nặng nề trong thực hành lâm sàng, xuất hiện khi bệnh nhân được tiếp xuc với một dị nguyên, trong đó với thuốc cản quang được xem là dị nguyên hay gặp nhất. Hậu quả để lại có thể đe dọa đến tính mạng bệnh nhân. Phát hiện sớm phản vệ với các dấu hiệu ngoài da, thay đổi hô hấp và thay đổi về huyết động (huyết áp và tưới máu tổ chức) là cần thiết và có tính chất quyết định trước khi tiến hành cấp cứu phản vệ. Nhờ việc đưa ra các hướng dẫn củ thể, bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghê An đã trang bị cho các bác sĩ, các kĩ thuật viên, điều dưỡng viên cách dự phòng trên các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, cũng như chủ động cấp cứu các tình huốngsốc phản vệ do dùng thuốc cản quang.

Ds.Nguyễn Thị Thanh Hoa

Ds. Nguyễn Thị Hồng Lê