Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An
Khám chữa bệnh Đa khoa, Khám sức khỏe, Cấp cứu, Khám hợp đồng

Bệnh béo phì

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ

Tác giả: PGS.TS.BS. Elizabeth A.Thomas và Daniel H. Bessesen – Đại học Califonia, Hoa Kỳ
Dịch: Bs Lê Đình Sáng – Khoa Nội tiết – Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An


1. Định nghĩa các thuật ngữ “Thừa cân” và “Béo phì”.

Thừa cân và béo phì được định nghĩa là mức độ cân nặng quá mức có liên quan đến sự gia tăng bệnh suất và tử vong. Năm 1998, Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia của Viện Y tế Quốc gia (NIH) công bố hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị thừa cân và béo phì. Ban chuyên gia vận động sử dụng các điểm cắt chỉ số BMI (body mass index) cụ thể để chẩn đoán cả hai điều kiện. Chỉ số BMI được tính bằng cách chia trọng lượng của một người bằng kilôgam cho chiều cao của họ bằng mét vuông. Một BMI (kg/m2) ≤ 25 được định nghĩa là bình thường; 25 đến 29,9: thừa cân; 30 đến 34,9: béo phì nhẹ; 35 đến 39,9: béo phì vừa phải; Và lớn hơn 40: béo phì nghiêm trọng hoặc bệnh béo phì.

2. Sự phân bố mỡ có ảnh hưởng đến việc đánh giá nguy cơ ở một bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì?

Có. Sự tích lũy của mô mỡ quá mức ở phần trung tâm – hoặc nửa trên (béo phì kiểu nam) có liên quan đến nguy cơ tăng lên của các hậu quả sức khỏe chuyển hóa bất lợi hơn là béo phì nửa dưới (béo phì kiểu nữ). Mỡ bụng là một yếu tố tiên lượng độc lập của nguy cơ đái tháo đường, THA, rối loạn lipid máu và bệnh mạch vành. Lượng tuyệt đối của mỡ trong ổ bụng hoặc nội tạng được liên kết chặt chẽ nhất với những rủi ro xấu tới sức khỏe.

3. Giải thích vai trò của chu vi vòng eo trong phân tầng nguy cơ.

Chu vi vòng eo là thước đo ưa thích cho phân tầng nguy cơ trên cơ sở phân bố mỡ. Những người có chu vi vòng eo lớn hơn 40 inch (>102 cm) và những phụ nữ có vòng tròn eo lớn hơn 35 inch (>88 cm) có nguy cơ gia tăng. Vòng eo rất hữu ích cho việc phân tầng nguy cơ ở những người có BMI từ 25 đến 30 kg/m2. Trong nhóm có nguy cơ trung bình này, những người có vòng eo tăng nên nỗ lực hơn nữa để tránh tăng cân, trong khi những người có chu vi vòng eo nhỏ hơn có thể yên tâm rằng trọng lượng của họ không gây ra những mối nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng.

4. Chu vi vòng eo được đo như thế nào?

Chu vi vòng eo được đo bằng thước dây song song với sàn ở mức ngang mào chậu vào cuối thì thở ra ở trạng thái thư giãn.

5. Những hậu quả xấu về sức khoẻ có liên quan gì đến chứng béo phì?

Béo phì rõ ràng liên quan đến bệnh tiểu đường, cao huyết áp, tăng lipid máu, bệnh động mạch vành, viêm thoái hóa khớp, bệnh túi mật và ung thư nội mạc tử cung, vú, tuyến tiền liệt và đại tràng. Nó cũng liên quan đến chứng tiểu không tự chủ, trào ngược dạ dày thực quản, vô sinh, ngưng thở khi ngủ, và suy tim sung huyết. Tỷ lệ mắc các bệnh này tăng lên đều đặn khi cơ thể tăng cân (Hình 7-1 và 7-2). Rủi ro tăng thậm chí với sự gia tăng trọng lượng khiêm tốn. Rủi ro về sức khoẻ càng tăng lên với tuổi già và lịch sử béo phì gia đình.

ac

6. Tóm tắt các hậu quả kinh tế của chứng béo phì.

Tổng chi phí chăm sóc sức khoẻ trực tiếp và gián tiếp liên quan đến béo phì được ước tính là 147 tỷ đô la năm 2008. Năm 2006, chi phí y tế hàng năm cho người béo phì là nhiều hơn 1429 đô la (42%) so với người bình thường. Gần 90% chi phí tăng do chăm sóc người béo phì là do sự gia tăng tỷ lệ béo phì. Ngoài ra, NIH ước tính rằng người Mỹ phải trả 44 tỷ đô la mỗi năm cho các sản phẩm và dịch vụ giảm cân.

7. Các biến chứng tâm lý của bệnh béo phì ?

Tình trạng trầm cảm và lo âu liên quan đến chứng béo phì rất phổ biến. Người béo phì có thể bị phân biệt đối xử, góp phần gây khó khăn cho hình ảnh bản thân nghèo nàn và sự cô lập xã hội. Có thể khó khăn ở một số bệnh nhân để xác định liệu trầm cảm có tăng tốc độ tăng cân hay liệu tăng cân làm bộc phát một tình trạng trầm cảm sẵn có, nhưng điều trị cả hai điều kiện có thể cải thiện chất lượng cuộc sống. Công trình của Trung tâm Rudd và các nhóm khác đã làm nổi bật thành kiến mà bệnh nhân béo phì trải nghiệm ngay cả từ các bác sĩ chăm sóc cho họ. Điều quan trọng là bác sĩ điều trị phải ít nhất là nhận thức được xu hướng đổ lỗi cho bệnh nhân béo phì vì tình trạng của họ và không làm nặng thêm sự thành kiến phổ biến này tốt nhất nếu có.

8. Bệnh béo phì có phổ biến không?

Béo phì đã đạt đến tỷ lệ dịch bệnh ở Mỹ. Khảo sát Sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia (NHANES) được thực hiện bởi Chính phủ liên bang sử dụng các phép đo trực tiếp chiều cao và cân nặng trong một mẫu đại diện những người Mỹ để ước lượng tỷ lệ mắc bệnh béo phì. Tỷ lệ mắc béo phì tăng rõ rệt từ thập niên 1980 đến 1990 nhưng hiện nay đã giảm. Dữ liệu mới nhất từ NHANES cho thấy từ 2009 đến 2010, 35.7% người trưởng thành ở Mỹ có chỉ số BMI > 30 kg/m2. Tỷ lệ béo phì không thay đổi rõ rệt từ 2003 đến 2008. Tỷ lệ thừa cân (BMI > 25 kg/m2) là khoảng 68.8%. Tỷ lệ béo phì nghiêm trọng (BMI> 40 kg/m2) là 6.3% trong dữ liệu mới nhất có sẵn. Ở trẻ em và vị thành niên tuổi từ 2 đến 19 tuổi, tỷ lệ béo phì 16.9%, không thay đổi so với tỷ lệ hiện mắc từ 2007 đến 2008.

9. Điều gì gây ra sự tăng vọt tỷ lệ béo phì những thập niên 1980 và 1990 ?

Sự phổ biến của bệnh béo phì đã tăng lên trong thời gian ngắn này; Có vẻ như thủ phạm chính là một môi trường thay đổi nhằm thúc đẩy lượng thức ăn ăn vào và làm giảm hoạt động thể chất. Tuy nhiên, tuyên bố này không nên được hiểu là trọng lượng cơ thể không phải là mục tiêu của sự điều hòa về sinh lý. Việc kiểm soát trọng lượng cơ thể rất phức tạp, với nhiều hệ thống liên quan kiểm soát lượng calo, hàm lượng dinh dưỡng của chế độ ăn uống, chi tiêu năng lượng và chuyển hóa nhiên liệu.

10. Mô tả mô hình hiện tại về bệnh béo phì như một bệnh mãn tính

Bệnh béo phì hiện nay được xem như là một chứng bệnh mãn tính, thường tiến triển như bệnh đái tháo đường hoặc THA. Quan điểm này đòi hỏi phải có sự chuyển đổi khái niệm từ niềm tin rộng rãi trước đó rằng béo phì chỉ đơn giản là một vấn đề về thẩm mỹ hoặc hành vi. Sự phát triển của bệnh béo phì đòi hỏi giai đoạn cân bằng năng lượng tích cực, trong đó lượng năng lượng đưa vào vượt quá năng lượng tiêu hao. Duy trì cân bằng năng lượng là một trong những cơ chế sống còn quan trọng nhất của bất kỳ sinh vật nào. Một sự mất cân bằng tiêu cực bền vững giữa năng lượng đưa vào và năng lượng tiêu hao có khả năng đe dọa cuộc sống trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Để duy trì cân bằng năng lượng, cơ thể sống phải đánh giá các kho năng lượng trong cơ thể; Đánh giá hàm lượng chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn; Và điều chỉnh mức hoóc môn, năng lượng tiêu hao, vận động dinh dưỡng và hành vi ăn uống để đáp ứng những đánh giá này.

11. Có phải các gene bất thường gây nên béo phì?

Bệnh béo phì rõ ràng là phổ biến hơn ở những người có thành viên gia đình cũng béo phì. Di truyền có vẻ như chịu trách nhiệm về 30% đến 60% sự khác biệt về cân nặng ở hầu hết các quần thể. Vấn đề về béo phì của con người, tuy nhiên, liên quan đến sự tương tác giữa sự nhạy cảm về di truyền và các yếu tố môi trường gây nên. Các gen mà chúng ta có để điều chỉnh trọng lượng cơ thể đã tiến hóa từ 200.000 đến 1 triệu năm trước, vào thời điểm đó các yếu tố môi trường kiểm soát việc thu nhận chất dinh dưỡng và môi trường hoạt động thể chất khác nhau rất nhiều. Một số dị tật gene đơn đã được xác định gây ra chứng béo phì trầm trọng ở trẻ em. Chúng bao gồm đột biến gen leptin, thụ thể leptin, gen MC4R, yếu tố nuôi dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF), và SIM-1. Tuy nhiên, những đột biến này khá hiếm, lý giải cho ít hơn 8% các trường hợp béo phì khởi phát sớm.
Các nghiên cứu liên kết gen toàn cầu đã xác định được hơn 20 gen có liên quan đến các dạng phổ biến của béo phì ở người. Phổ biến nhất trong số này là gen FTO. Allele của gen này có liên quan đến tăng cân có mặt ở 15% người. Tuy nhiên, sự gia tăng trọng lượng liên quan đến alen có nguy cơ cao này chỉ là 3 kg. Do đó, bệnh béo phì thường gặp ở người là kết quả của sự thay đổi ở một số lượng lớn các gen, mỗi loại đều có tác động tương đối nhỏ.

12. Leptin là gì ?

Leptin là một hoocmon được tiết ra duy nhất bởi các mô mỡ trong tỷ lệ trực tiếp với khối mỡ. Nó được phát hiện vào năm 1994. Leptin hoạt động thông qua các thụ thể nằm trên các nơ-ron trong hạt nhân arcuate của vùng dưới đồi và vùng não khác để điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào và năng lượng tiêu hao. Sự thay đổi nồng độ leptin ở vùng dưới đồi sẽ làm thay đổi sản xuất một số neuropeptides, bao gồm
Pro-opiomelanocortin (POMC) và peptit liên quan đến Agouti (AGRP).

13. Có phải sự thiếu hụt Leptin gây ra béo phì ở người?

Có một số trường hợp thiếu hụt di truyền của leptin hoặc thụ thể của nó đã được tìm thấy gây ra chứng béo phì khởi phát sớm. Điều trị những người thiếu leptin hay các thụ thể của nó với leptin dẫn đến giảm cân đáng kể. Tuy nhiên, nồng độ leptin thường cao hơn ở người béo phì so với người gầy theo tỷ lệ của khối lượng chất béo lớn hơn trước đó. Các nghiên cứu trong đó leptin tái tổ hợp của người được sử dụng cho những người béo phì điển hình tạo ra sự giảm cân tối thiểu. Những phát hiện này cho thấy các dạng phổ biến của béo phì ở người có liên quan đến kháng leptin, không phải sự thiếu hụt leptin.

14. Hệ thống melanocortin hoạt động như thế nào trong việc điều chỉnh cân nặng.

Alpha-melanocortin (hoóc môn kích thích tế bào sắc tố alpha [a-MSH]) là một trong những sản phẩm hoóc môn của gen POMC. Neuropeptide này hoạt động trong vùng dưới đồi với thụ thể melanocortin, đặc biệt là phân typ MC4-R, để điều chỉnh trọng lượng cơ thể. Bằng cách kích thích MC4-R, a-MSH ức chế ăn vào, trong khi chất đối kháng tự nhiên, peptita liên quan đến gepti, cũng được tạo ra ở vùng dưới đồi, kích thích việc ăn vào. Các chất chủ vận MC4-R đã được phát triển. Mặc dù những thuốc này làm giảm lượng thức ăn ăn vào và làm giảm trọng lượng ở các loài gặm nhấm bị béo phì, nhưng chúng không được coi là hữu ích như ở người béo phì. Sự thất bại của những loại thuốc này và những loại khác hoạt động thông qua các con đường điều chỉnh dưới đồi nhằm giảm cân đáng kể ở người ở người béo phì đã đặt ra những câu hỏi về vai trò của các hệ thống này trong dạng béo phì phổ biến ở người.

15. Ghrelin là gì?

Ghrelin ban đầu được xác định là một hoocmon giải phóng hoocmon tăng trưởng sản xuất bởi dạ dày và đầu gần ruột non dường như điều chỉnh sự thèm ăn. Nồng độ Ghrelin tăng trước bữa ăn và nhanh chóng giảm sau khi ăn. Các triệu chứng đói tự báo cáo phản ánh mức độ ghrelin huyết thanh. Mức ghrelin 24 giờ tăng lên khi người ta tiếp tục chế độ ăn uống hạn chế năng lượng và giảm đáng kể sau phẫu thuật bỏ qua dạ dày. Ghrelin đã được mô tả như là một “hoóc môn đói” và là một mục tiêu khác có thể cho thuốc giảm cân. Dạng hoạt động sinh học của hoocmon, ghrelin acyl hóa, có một axit béo gắn liền với hoocmon mẹ. Các loại thuốc làm thay đổi sản xuất ghrelin acyl hóa cũng đang được nghiên cứu.

16. Giảm tiêu hao năng lượng đóng vai trò gì trong sự phát triển của chứng béo phì?

Sự phát triển của béo phì đòi hỏi một sự mất cân bằng giữa lượng calo vào và ra. Để khối mỡ gia tăng, phải có một sự mất cân bằng giữa lượng chất béo lắng đọng và lượng chất béo bị oxy hóa. Một khả năng là người ta trở nên béo phì vì giảm tiêu hao năng lượng của họ. Mặc dù ý kiến chung rằng “tỷ lệ trao đổi chất thấp” có khuynh hướng béo phì, nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy điều này là đúng.

17. Các thành phần của tiêu hao năng lượng là gì?

+ Tỷ lệ trao đổi chất cơ bản (BMR): Số lượng năng lượng cần thiết để duy trì sự cân bằng cơ thể bằng cách duy trì nhiệt độ cơ thể, duy trì tính toàn vẹn của tim phổi và duy trì sự cân bằng điện giải.
+ Hiệu ứng nhiệt của thực phẩm: Một thành phần tương đối nhỏ (5% đến 10%) năng lượng tiêu hao liên quan đến việc tiêu hóa thức ăn.
+ Tiêu hao năng lượng hoạt động thể chất (PAEE): Đây là thành phần biến đổi nhất. Nó có thể chỉ chiếm từ 10% đến 20% tổng chi tiêu năng lượng ở những người sống tĩnh tại hoặc lên đến 60% đến 80% tổng chi tiêu năng lượng ở vận động viên. PAEE tăng với hoạt động thể chất theo kế hoạch hoặc với các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như leo cầu thang hay thậm chí nín thở. Thành phần không ý thức của hoạt động thể chất được gọi là sự sản sinh nhiệt hoạt động không do tập luyện (NEAT) và có thể là một tham số được quy định.

18. Giải thích khái niệm về cân bằng năng lượng

Khi một cá thể có trọng lượng ổn định, tổng chi tiêu năng lượng hàng ngày bằng tổng lượng năng lượng đưa vào hàng ngày. Tổng chi phí năng lượng là liên quan tuyến tính đến khối lượng nạc cơ thể. Các nghiên cứu sử dụng các phương pháp tinh vi để đo lường chi tiêu năng lượng đã chỉ ra rằng những người béo phì tiêu thụ nhiều calo hơn người gầy. Người béo phì nói rằng họ ăn một lượng nhỏ nhưng tăng cân có thể trong ngắn hạn, nhưng trong thời gian dài hơn, lượng calo cao cần đưa vào là bắt buộc để duy trì tình trạng béo phì. Mặc dù mức giảm PAEE có thể dẫn đến chứng béo phì, nhưng BMR không giảm ở người béo phì. Nguyên nhân trung tâm của béo phì là sự mất khả năng cân đối năng lượng đưa vào với sự tiêu hao năng lượng chính xác theo thời gian.

19. Những yếu tố khác liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc của chứng béo phì?

Trong 10 năm qua, các nhà điều tra đã xác định được một loạt các yếu tố môi trường mới có thể liên quan đến sự gia tăng bệnh béo phì trong 40 năm qua. Một lĩnh vực đã nhận được rất nhiều sự chú ý là giảm thời gian ngủ. Rõ ràng là trung bình người Mỹ đang ngủ ít hơn họ 50 năm trước. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng thời gian ngủ ngắn đi kèm với chứng béo phì, và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng việc thiếu ngủ có liên quan đến sự đề kháng insulin, tăng sự thèm ăn, và sự thay đổi oxy hóa chất béo. Việc sử dụng thuốc là một yếu tố khác có thể liên quan đến việc thúc đẩy béo phì. Các loại thuốc dùng rộng rãi thúc đẩy sự tăng cân bao gồm các thuốc chống loạn thần mới, sulfonylureas, insulin, thiazolidinediones và các thuốc ngừa thai có chứa progesterone. Các yếu tố mới khác có thể bao gồm sự lão hóa của dân số cũng như sự gia tăng số lượng người dân tộc thiểu số ở Mỹ, việc sử dụng các hệ thống kiểm soát khí hậu trong nhà và các tòa nhà công cộng (chuột nằm trong môi trường nhiệt độ trung bình nặng hơn chuột được đặt ở nhiệt độ thấp hơn), và các chất độc môi trường (một số nghiên cứu cho thấy mô mỡ tăng lên để đáp ứng với độc tố môi trường trong nỗ lực để cô lập chúng).

20. Có những lựa chọn gì để điều trị bệnh nhân béo phì?

Các lựa chọn điều trị cho bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì bao gồm chế độ ăn uống, tập thể dục, điều trị bằng thuốc, phẫu thuật và kết hợp các phương thức này. Phương thức cụ thể phải dựa trên BMI của cá nhân và các vấn đề liên quan đến sức khoẻ. Cách tiếp cận điều trị tích cực hơn được chỉ định cho những người có BMI cao hơn và những người có vấn đề về sức khoẻ. Cách tiếp cận hành vi được ủng hộ cho tất cả bệnh nhân thừa cân và béo phì. Cần cân nhắc điều trị bằng dược phẩm ở những bệnh nhân có BMI lớn hơn 27 kg/m2 khi có các biến chứng về y tế hoặc trên 30 kg/m2 khi không có các biến chứng về y tế. Điều trị phẫu thuật hiện được chỉ định cho những người có chỉ số BMI lớn hơn 40 kg/m2 và những người có chỉ số BMI lớn hơn 35 kg/m2 mắc các bệnh đi kèm. Bằng chứng gợi ý rằng phẫu thuật giảm béo cũng hữu ích cho bệnh nhân tiểu đường có BMI dưới 35 kg / m2.

21. Mục tiêu của một chương trình giảm cân là gì?

Trước khi thảo luận các lựa chọn điều trị với bệnh nhân, điều quan trọng là phải quyết định mục tiêu của chương trình điều trị. Nhiều bệnh nhân béo phì có kỳ vọng không thực tế về trọng lượng mà họ có thể giảm thông qua một chương trình giảm cân. Hầu hết đều muốn đạt được trọng lượng cơ thể lý tưởng và thất vọng nếu họ chỉ giảm được 5% đến 10% trọng lượng ban đầu. Những ham muốn này trái ngược với mức độ giảm cân đã được nhìn thấy với tất cả các phương pháp điều trị ngắn của phẫu thuật giảm cân. Các chương trình ăn kiêng, tập thể dục hoặc điều trị thuốc có hiệu quả nhất có thể làm giảm khoảng 5 đến 10% trọng lượng ở hầu hết mọi người.

22. Giảm 5% đến 10% cân nặng có hữu ích trong việc cải thiện sức khoẻ?

Giảm 5% đến 10% trọng lượng cơ thể có liên quan đến việc cải thiện huyết áp, giảm cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL), cải thiện chức năng, và giảm đáng kể nguy cơ tiểu đường . Hầu hết các chuyên gia đều tin rằng giảm cân từ 5% đến 10% là mục tiêu thực tế với các lợi ích sức khoẻ có thể đo được. Ngoài ra, phòng ngừa tăng cân thêm nữa có thể là một mục tiêu hợp lý và có thể đạt được, hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chỉ đơn giản khuyến khích bệnh nhân tập trung vào thói quen ăn uống và hoạt động chứ không phải ở mức cân nặng.

23. Làm thế nào để đánh giá sự sẵn sàng của bệnh nhân về chế độ ăn kiêng và hoạt động thể chất?

Các giai đoạn của học thuyết thay đổi có thể giúp nhà lâm sàng tập trung tư vấn các hoạt động trong bối cảnh của một lần khám bệnh. Prochazka đã giả định 6 giai đoạn có thể tiên đoán được thông qua đó 1 cá nhân vượt qua trước khi có khả năng thay đổi một hành vi về dài hạn, chẳng hạn ăn kiêng, mô hình hoạt động thể chất, hoặc hút thuốc: tiền-dự định, dự định, lập kế hoạch, hành động, duy trì và tái phát. Nhận diện giai đoạn của bệnh nhân và thiết lập mục tiêu tư vấn theo giai đoạn có thể cải thiện hiệu quả của các hoạt động tư vấn.

24. ‘Phỏng vấn động cơ’ là gì, và làm thế nào để sử dụng nó ở một bệnh nhân béo phì?

Phỏng vấn động cơ là một dạng tư vấn được sử dụng cho những người nghiện rượu. Phương pháp này là hữu ích cho việc tương tác với những bệnh nhân gặp mâu thuẫn trong việc thay đổi chế độ ăn hoặc hành vi hoạt động thể chất của họ. Các chiến lược được sử dụng để tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn này bằng cách để bệnh nhân khám phá những lý do tại sao họ muốn thay đổi và lý do tại sao họ lại thấy hành vi hiện tại thoải mái hơn. Phương pháp này gây dựng ý tưởng rằng động cơ không thể được sáng tạo ra, mà đã có sẵn ở nhiều bệnh nhân, là nhu cầu cơ bản có thể được nhận diện và tái định hướng.

25. Thảo luận vai trò của ăn kiêng trong điều trị bệnh nhân béo phì.

Các yếu tố chính trong việc điều chỉnh chế độ ăn uống trong liệu pháp giảm cân là chế độ ăn ít chất béo và giảm lượng calo. Các bằng chứng thuyết phục cho cách tiếp cận này đến từ Dự án Phòng chống Tiểu đường và các thử nghiệm liên quan khác ở những cá nhân có nguy cơ cao đối với sự phát triển của bệnh tiểu đường. Bất cứ thay đổi nào tạo ra phải bền vững để có lợi. Bác sĩ lâm sàng nên đánh giá chế độ ăn uống hiện tại với một lịch sử dinh dưỡng tốt, có thể bao gồm chế độ ăn uống 24 hoặc 72 tiếng trước đó. Ngoài ra, bệnh nhân có thể giữ nhật ký ăn uống từ 3-7 ngày. Đánh giá mẫu thức ăn rất quan trọng, bởi vì nhiều người bỏ bữa sáng và ăn trưa một cách thất thường. Cần chú ý đến mức độ thường xuyên mà cá nhân đó đi ăn ngoài, đặc biệt là thức ăn nhanh. Nhiều bệnh nhân có thể xác định các loại thực phẩm chủ chốt là một vấn đề cho những nỗ lực giảm cân của họ. Sự thay đổi nhỏ, dần dần có thể thành công hơn những thay đổi mạnh mẽ.

26. Có nên khuyến khích bệnh nhân tham gia vào một chương trình giảm cân thương mại?

Hầu hết mọi người đều biết họ nên ăn gì. Vấn đề là họ hoặc không chú ý đến những gì họ ăn hoặc không tìm thấy một “chế độ ăn uống lành mạnh” ngon miệng. Việc sử dụng các chương trình thương mại, chẳng hạn như Weight Watchers, có thể cung cấp tư vấn dinh dưỡng hợp lý cùng với sự hỗ trợ xã hội mà thường không thể được cung cấp trong bối cảnh thực tiễn văn phòng bận rộn. Nhiều bệnh nhân ngạc nhiên về chi phí của các chương trình này, có thể là một cản trở cho việc tiếp tục sử dụng của họ. Tuy nhiên, loại chương trình này không có rủi ro và có thể rẻ hơn trong thời gian dài hơn so với điều trị bằng dược lý. Các tài liệu khoa học ủng hộ khái niệm rằng đối với nhiều người, các chương trình giảm cân thương mại là một lựa chọn hợp lý.

27. Việc thay thế thức ăn có hữu ích trong chương trình giảm cân không?

Đối với một số người, rất khó để kiểm soát lượng calo thông qua các bữa ăn tự lựa chọn. Có thể không có thời gian để chuẩn bị thực phẩm và sự tiện lợi có thể làm thay đổi mối quan tâm về sức khoẻ. Đối với những người như vậy, các bữa ăn thay thế-calorie, thức ăn bổ dưỡng đủ chất – là một lựa chọn hợp lý với hiệu quả khoa học đã được chứng minh nếu được sử dụng như một chiến lược dài hạn. Trên thực tế, cách tiếp cận này được sử dụng trong thử nghiệm Nhìn về phía trước do NIH tài trợ, và những người tham gia có tỷ lệ sử dụng chất thay thế bữa ăn cao nhất có thể đạt được mục tiêu giảm cân gấp 4 lần.

28. Chế độ ăn ít và rất ít calo là gì? Khi nào thì nên sử dụng?

Chế độ ăn rất ít calorie (VLCD) là chế độ dinh dưỡng toàn phần 800 kcal/ngày, giúp giảm cân nhanh chóng. Chế độ ăn kiêng calorie thấp (LCD) chứa từ 800 đến 1000 kcal/ngày. Các sản phẩm sẵn có trên thị trường thường bao gồm các bữa ăn lỏng được bổ sung các axit amin thiết yếu, axit béo cần thiết, vitamin và các vi chất dinh dưỡng được uống bốn hoặc năm lần mỗi ngày. Các sản phẩm thương mại với trái cây và rau chuyển một VLCD thành một LCD và có thể làm cho chế độ ăn uống dễ chịu hơn cho bệnh nhân. Dữ liệu cho thấy VLCD và LCD có thể tạo ra một mức độ giảm cân tốt hơn so với những người có phương pháp tiếp cận chế độ ăn uống truyền thống và gần với những gì được nhìn thấy với phẫu thuật giảm cân. Chế độ ăn uống như vậy cũng có thể hữu ích cho bệnh nhân cần giảm cân trong thời gian ngắn cho một thủ thuật chẩn đoán hoặc phẫu thuật. Sự hình thành sỏi mật là một biến chứng được công nhận của VLCD và LCD.

29. Chế độ ăn kiêng Atkins là gì? Nó có hiệu quả không?

Chế độ ăn kiêng Atkins là chế độ ăn kiêng hạn chế Carbohydrate nghiêm ngặt (<20g/ngày trong giai đoạn khởi phát). Hạn chế carbohydrate nghiêm ngặt tạo ra điều mà Tiến sĩ Robert Atkins gọi là “Tăng ceton ăn kiêng lành tính”, mà ông cho là ức chế sự thèm ăn. Chế độ ăn kiêng này có một số hạn chế khác. Một số nghiên cứu ủng hộ ý tưởng rằng chế độ ăn kiêng Atkins tạo ra sự giảm cân nhiều hơn là chế độ ăn ít chất béo trong 6 tháng nhưng việc giảm cân lâu dài tương đương với chế độ ăn giàu carbohydrate và chất béo thấp hơn. Những nghiên cứu này không có tác dụng phụ lên mức lipid trong máu. Chế độ ăn kiêng Atkins có thể khó cho mọi người tuân thủ lâu dài.

TÓM TẮT ĐIỂM CHÍNH VỀ BỆNH BÉO PHÌ

1. Béo phì được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể lớn hơn 30 kg/m2.

2. Giảm 5% đến 10% trọng lượng là một mục tiêu tốt với những lợi ích về sức khoẻ.

3. Một số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy rằng trong 6 đến 12 tháng, không có tác dụng phụ đối với lipid từ kế hoạch Ăn kiêng Atkins.

4. Orlistat, phentermine và lorcaserin là những loại thuốc duy nhất hiện đang được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt để giúp những bệnh nhân thừa cân và béo phì giảm cân.

5. Giảm cân trung bình sau phẫu thuật bỏ qua dạ dày là 30%.

30. Những loại thuốc điều trị bệnh béo phì có sẵn?

– Phentermine (Adipex-P, Fastin, Ionamin)
– Orlistat (Xenical, Alli)
– Lorcaserin (Belviq)
– Phentermine plus topiramate (Qsymia)

31. Phentermine và amphetamine có liên quan đến nhau?

Có. Phentermine có liên quan hóa học với Amphetamine và tác động nổi trội trên chất dẫn truyền thần kinh Norepinephrine để giảm cảm giác ngon miệng. Các tác động gây nghiện của Amphetamin được cho là do tác dụng của nó trên chất dẫn truyền thần kinh Dopamine. Phentermine có tác động dopaminergic ít hơn amphetamine và do đó có tiềm năng tối thiểu gây nghiện.

32. Phentermine có hiệu quả không?

So với giả dược, Phentermine tạo ra sự giảm cân 5% ở 50-60% những người sử dụng nó. Liều được sử dụng từ 15 đến 37.5 mg/ngày. Nó là thuốc giảm cân được kê đơn phổ biến nhất.

33. Các tác dụng phụ của phentermine?

Phentermine là chất kích thích trung tâm và có thể gây tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, lo lắng, đau đầu, khó ngủ và run ở một số người. Không nên dùng ở những người bị tăng huyết áp không kiểm soát được. Huyết áp nên được theo dõi chặt chẽ sau khi bắt đầu dùng thuốc này. Không có bằng chứng cho thấy, khi dùng đơn độc (trái ngược với sự kết hợp của phentermine với fenfluramine), nó có liên quan đến độc tính mạch máu tim hay phổi. Phentermine được chấp thuận bởi Tổ chức Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chỉ dành cho sử dụng trong 3 tháng. Tuy nhiên, nó thường được cho trong thời gian dài hơn 3 tháng. Bằng chứng về sự an toàn của phentermine đến từ thực tế đã được kê đơn rộng rãi hơn bất kỳ loại thuốc giảm cân nào khác, và không có bằng chứng về các phản ứng phụ lâu dài nghiêm trọng.

34. Orlistat tác dụng như thế nào?

Orlistat là chất ức chế lipase tụy. Ở liều kê đơn, 120 mg ba lần một ngày cùng với bữa ăn sẽ làm giảm sự hấp thu chất béo trong chế độ ăn khoảng 30% bằng cách ức chế enzyme chịu trách nhiệm cho sự tiêu hóa mỡ. Mức giảm cân trung bình là khoảng 5% đến 8%. Thuốc này có thể được ưa thích ở những người bị rối loạn khí sắc, bệnh tim, hoặc tăng huyết áp không được kiểm soát. Một dạng bào chế 60 mg được chấp thuận bởi FDA và có sẵn trên các quầy thuốc. Dạng này kém hiệu quả hơn so với dạng kê toa, giúp giảm khoảng 2 đến 4% trọng lượng.

35. Các tác dụng phụ của orlistat?

Các tác dụng phụ chính của orlistat là do sự kém hấp thu mỡ mà nó gây ra. Các bệnh nhân sử dụng những bữa ăn giàu chất béo sẽ cảm thấy mệt mỏi và thậm chí có thể gặp vấn đề về tiêu hóa. Nếu bệnh nhân chọn bỏ thuốc, họ có thể ăn một bữa ăn giàu chất béo mà không có phản ứng phụ và không có lợi ích gì do thuốc đó cung cấp. FDA đã phê duyệt orlistat để sử dụng lâu dài, và không có đề cập cụ thể khi nào thuốc phải được dừng lại. Bởi vì có khả năng gây ra thiếu hụt vitamin tan trong chất béo nên người bệnh nên được hướng dẫn uống nhiều vitamin mỗi ngày. Orlistat nên được sử dụng cẩn thận ở những người dùng warfarin (Coumadin) và không dùng ở những bệnh nhân đang điều trị bằng cyclosporin.

36. Thảo luận việc sử dụng Lorcaserin

Lorcaserin là thuốc giảm cân được FDA chấp thuận gần đây nhất. Nó là một chất chủ vận thụ thể chọn lọc 5-HT2C thay đổi tín hiệu serotonin để giảm lượng thức ăn ăn vào. Loraxerin được chỉ định như một chất bổ sung cho chế độ ăn ít calo và tăng hoạt động thể lực để quản lý cân nặng lâu dài ở người lớn với chỉ số BMI ban đầu từ 30 kg/m2 trở lên hoặc với chỉ số BMI ban đầu ≥ 27 kg/m2 và ít nhất một bệnh liên quan đến cân nặng. Giảm cân trung bình với lorcaserin khoảng 4% đến 6% trong các thử nghiệm lâm sàng.

37. Thảo luận vai trò của bupropion trong điều trị chứng béo phì.

Một số nghiên cứu chứng minh rằng bupropion có thể làm giảm trọng lượng dần dần trong khoảng 1 năm ở nhiều người. Thuốc này không được FDA chấp thuận cho việc giảm cân. Bupropion có thể hữu ích ở những bệnh nhân béo phì có trầm cảm nghiêm trọng đủ để phải dùng thuốc trị liệu.

38. Thảo luận việc sử dụng phentermine+topiramate trong điều trị béo phì

Phentermine cộng với topiramate là thuốc mới được FDA chấp thuận để giảm cân. Topira được chỉ định để điều trị động kinh và chứng đau nửa đầu. Trong các thử nghiệm lâm sàng, những người sử dụng phentermine cộng với topiramate có mức giảm cân trung bình từ 8% đến 10%. Liều khuyến cáo là phentermine 7,5 mg cộng với topiramate 46 mg viên phóng thích kéo dài. Liều cao hơn phentermine 15 mg cộng với topiramate 92 mg cũng có thể được kê đơn. Không thể sử dụng thuốc kết hợp trong thời kỳ mang thai vì dữ liệu cho thấy thai nhi tiếp xúc với topiramat trong tam cá nguyệt đầu tiên có nguy cơ cao bị sứt môi và hở hàm ếch. Nữ giới ở độ tuổi sinh đẻ nên có kết quả xét nghiệm mang thai âm tính trước khi bắt đầu dùng thuốc, nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả, và nên làm xét nghiệm thai mỗi tháng khi đang dùng thuốc. Ngoài ra, thuốc không thể dùng cho bệnh nhân bị tăng nhãn áp hoặc cường giáp.

39. Có bất kỳ loại thuốc giảm cân nào khác đang chờ FDA phê duyệt?

Một vài loại thuốc giảm cân đã được FDA xem xét trong vài năm qua. Một vài chất đồng vận peptide-1 (GLP-1) giống glucagon có sẵn để điều trị bệnh tiểu đường. Exenatide và Liraglutide đang chờ sự chấp thuận của FDA với mục đích giảm cân.
Một kết hợp bupropion-naltrexone cũng đang được đánh giá nhưng chưa nhận được phê duyệt của FDA.

40. Thuốc giảm cần sử dụng trong bao lâu?

Các loại thuốc được sử dụng để thúc đẩy việc giảm cân chỉ có tác dụng nếu nó được dùng. Nếu một bệnh nhân giảm cân trong khi dùng thuốc và sau đó ngừng sử dụng nó, anh ta có thể bị tăng cân trở lại. Nếu bác sĩ và bệnh nhân quyết định thử thuốc giảm cân, cần phải mất ít nhất 1 đến 3 tháng để xác định liệu bệnh nhân có giảm được cân hay không. Sau đó, một số hình thức sử dụng lâu dài nên được xem xét, với các thông tin sẵn có về các nguy cơ và lợi ích tiềm năng của thuốc. Ngoài ra còn có dữ liệu hỗ trợ việc sử dụng thuốc giảm cân ngắt quãng.

41. Thảo luận vai trò của tập thể dục trong một chương trình giảm cân.

Tăng hoạt động thể chất dường như là một phần trung tâm của một chương trình giảm cân thành công. Mặc dù tập thể dục không làm giảm cân thêm nhiều so với một mình chế độ ăn uống trong thời gian ngắn, điều này có vẻ vô cùng quan trọng trong việc duy trì trạng thái giảm cân. Cơ quan kiểm soát cân nặng quốc gia là một nhóm gồm 3000 người được xác định vì họ đã giảm thành công 13.5 kg và đã được giữ nó trong ít nhất 1 năm. Họ tự báo cáo 2000 kcal/tuần về hoạt động thể chất theo kế hoạch (60-80 phút/ngày trong hầu hết các ngày trong tuần). Một cuộc thảo luận về hoạt động thể chất với bệnh nhân nên bắt đầu với một lịch sử hoạt động thể chất. Hỏi về tần suất tham gia vào các hoạt động thể chất theo kế hoạch. Sau đó, hỏi về giờ xem truyền hình mỗi ngày, thời gian sử dụng máy tính, và các hoạt động tĩnh tại khác. Cuối cùng, thảo luận về các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, bao gồm các hoạt động liên quan đến công việc. Đánh giá sự sẵn sàng của cá nhân để thay đổi mức độ hoạt động thể chất của mình.

42. Hoạt động thể chất bao nhiêu là cần thiết để ngăn ngừa tăng cân như trái ngược với việc duy trì giảm cân?

Năm 2008, chính phủ Hoa Kỳ đã công bố các hướng dẫn hoạt động thể chất cho người Mỹ. Những hướng dẫn này cho thấy tất cả người lớn nên tập thể dục 2 giờ 30 phút mỗi tuần với cường độ vừa phải hoặc 1 giờ và 15 phút mỗi tuần với hoạt động thể dục nhịp điệu mạnh mẽ. Ngoài ra, họ khuyên rằng các hoạt động tăng cường cơ bắp liên quan đến tất cả các nhóm cơ lớn được thực hiện từ 2 ngày trở lên mỗi tuần. Mức độ hoạt động này được thiết kế để tránh tăng cân. Có thể cần hoạt động thể chất vừa phải 60 đến 90 phút mỗi ngày để duy trì sự giảm cân.

43. Máy đo bước chân là gì? Chúng được sử dụng như thế nào?

Đo bước chân là những thiết bị nhỏ được kẹp vào eo quần áo. Chúng có thể được sử dụng để đánh giá hoạt động thể chất thông thường và giám sát các mục tiêu hoạt động thể chất. Số bước chân thông thường mỗi ngày của một người trung bình là 6.000. Số bước đi được đề nghị để ngăn ngừa tăng cân là 10.000 mỗi ngày. Những người trong Cơ quan Kiểm soát Cân nặng Quốc gia sử dụng hoạt động thể lực để làm giảm trạng thái béo phì là 12.000 bước/ngày.

44. Các loại phẫu thuật giảm cân phổ biến là gì?

Phẫu thuật hạn chế giới hạn lượng thức ăn dạ dày có thể lưu giữ và làm chậm tốc độ rỗng dạ dày. Phẫu thuật hạn chế phổ biến nhất được thực hiện là phẫu thuật thắt dạ dày (LAP-BAND). Một phẫu thuật mới hơn, phẫu thuật cắt dạ dày hình ống, rõ ràng hạn chế khả năng dạ dày theo cách không thể đảo ngược và dường như có hiệu quả hơn so với phẫu thuật thắt dạ dày, mặc dù nó cũng mang nhiều nguy cơ biến chứng. Phẫu thuật nối tắt dạ dày Roux-en-Y (RYGB) kết hợp sự hạn chế dạ dày với sự giảm hấp thu chọn lọc và giảm cân nhiều hơn. Thủ thuật này có thể được thực hiện thông qua một vết rạch hở hoặc phẫu thuật nội soi. Mặc dù các thủ thuật làm giảm hấp thu giúp giảm cân nhanh chóng và sâu sắc hơn, chúng cũng đặt bệnh nhân có nguy cơ biến chứng, chẳng hạn như thiếu vitamin và suy dinh dưỡng protein-năng lượng. Các phẫu thuật hạn chế được xem là đơn giản và an toàn hơn nhưng có thể dẫn đến giảm cân lâu dài.

45. Ai là ứng viên tốt để điều trị ngoại khoa bệnh béo phì?

Bệnh nhân đủ điều kiện là những bệnh nhân có chỉ số BMI lớn hơn 40 kg/m2 mà không có bệnh kèm theo hoặc BMI lớn hơn 35 kg/m2 với các bệnh kèm theo, như tiểu đường, ngưng thở khi ngủ, trào ngược dạ dày-thực quản, cao huyết áp, và bệnh thoái hóa khớp (DJD); Bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc bệnh; Bệnh nhân mà các hình thức trị liệu khác đã thất bại; Và bệnh nhân không mắc bệnh tim, phổi hoặc tâm thần nghiêm trọng. Phẫu thuật giảm cân ngày càng được thực hiện nhiều ở thanh thiếu niên bị béo phì nặng, đã trải qua giai đoạn dậy thì và những người khác đã thất bại với các hình thức điều trị khác.

46. Kết quả mong đợi và lợi ích sức khoẻ của phẫu thuật giảm cân là gì?

Phẫu thuật giảm cân là cách điều trị giảm cân hiệu quả nhất dành cho những người có chứng béo phì nghiêm trọng về mặt lâm sàng. Trong một phân tích meta, tỷ lệ phần trăm của việc giảm cân vượt mức cho tất cả các loại phẫu thuật là 61,2% (xem Buchwald và cộng sự, 2004). Điều này làm giảm khoảng 30% trọng lượng tổng thể so với trước khi sinh. Giảm cân là lớn hơn khi kết hợp các biện pháp hạn chế – làm giảm hấp thu. Trong phân tích meta, bệnh tiểu đường hoàn toàn được giải quyết ở 77% bệnh nhân và đã được giải quyết hoặc cải thiện ở 86% bệnh nhân sau phẫu thuật giảm cân. Hai nghiên cứu khác báo cáo tỷ lệ giải quyết bệnh tiểu đường là 83% và 86% bệnh nhân (xem Schauer và cộng sự, 2003 và Sugarman và cộng sự, 2003). Trong phân tích meta, tăng lipid máu ở 70% bệnh nhân trở lên, cao huyết áp được giải quyết ở 62% và được giải quyết hoặc cải thiện ở 79% bệnh nhân, và chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ được giải quyết 86%. Tăng huyết áp cải thiện ở nhiều bệnh nhân nhưng ít cải thiện hơn so với bệnh tiểu đường hoặc ngưng thở khi ngủ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Buchwald H, Avidor Y, Braunwald E, et al: Bariatric surgery: a systematic review and meta-analysis, JAMA 292:1724–1728, 2004.
Dansinger ML, Gleason JA, Griffith JL, et al: Comparison of the Atkins, Ornish, Weight Watchers, and Zone diets for weight loss and heart disease risk reduction: a randomized trial, JAMA 293:43–53, 2005.
Fidler MC, Sanchez M, Anderson CM, et al: BLOSSOM Clinical Trial Group. A one-year randomized trial of lorcaserin for weight loss in obese and overweight adults: the BLOSSOM trial, J Clin Endocrinol Metab 96:3067–3077, 2011.
Finkelstein EA, Trogdon JG, Cohen JW, et al: Annual medical spending attributable to obesity: payer- and service-specific estimates, Health Affairs 28:822–831, 2009.
Flegal KM, Carroll MD, Kit BK, et al: Prevalence of obesity and trends in the distribution of body mass index among US adults, 1999–2010, JAMA 307:491–497, 2012.
Foster GD, Wyatt HR, Hill JO, et al: A randomized trial of a low-carbohydrate diet for obesity, N Engl J Med 348:2082–2090, 2003.
Hession M, Rolland C, Kulkarni U, et al: Systematic review of randomized controlled trials of low-carbohydrate vs. low-fat/ low-calorie diets in the management of obesity and its comorbidities, Obes Rev 10(1):36–50, 2009.
Heymsfield SB, Van Mierlo CA, Van Der Knapp HC, et al: Weight management using a meal replacement strategy: meta and pooling analysis, Int J Obesity Relat Metab Disord 27:537–549, 2003.
Knowler WC, Barrett-Conner E, Fowler SE, et al: Reduction in the incidence of type 2 diabetes with lifestyle intervention or metformin, N Engl J Med 346:393–403, 2002.
Kral JG, Naslund E: Surgical treatment of obesity, Nat Clin Pract Endocrinol Metab 3:574–583, 2007. Kushner RF: Obesity management, Gastroenterol Clin North Am 36:191–210, 2007.
Kushner RF, Bessesen DH: Treatment of the obese patient, Totowa, NJ, 2007, Humana Press.
Lauderdale DS, Liu K, et al: Cross-sectional and longitudinal associations between objectively measured sleep duration and body mass index: the CARDIA Sleep Study, Am J Epidemiol 170:805–813, 2009.
Li Z, Maglione M, Tu W, et al: Meta-analysis: pharmacologic treatment of obesity, Ann Intern Med 142:532–546, 2005.
Longitudinal Assessment of Bariatric Surgery (LABS) Consortium, Flum DR, Belle SH, King WC, et al: Perioperative safety in the longitudinal assessment of bariatric surgery, N Engl J Med 361:445–454, 2009.
Maggard MA, Shugarman LR, Suttorp M, et al: Meta-analysis: surgical treatment of obesity, Ann Intern Med 142:547–559, 2005.
Maria EJ: Bariatric surgery for morbid obesity, N Engl J Med 356:2176–2183, 2007.
McTigue KM, Harris R, Hemphill B, et al: Screening and interventions for obesity in adults: summary of the evidence for the U.S. Preventive Services Task Force, Med 139:933–1049, 2003.
Mechanick JI, Kushner RF, Sugerman HJ, et al: American Association of Clinical Endocrinologists, The Obesity Society, and American Society for Metabolic & Bariatric Surgery medical guidelines for clinical practice for the perioperative nutritional, metabolic, and nonsurgical support of the bariatric surgery patient, Obesity (Silver Spring) 17:S1–70, 2009.
National Institutes of Health: The practical guide to the identification, evaluation and treatment of overweight and obesity in adults, Obesity Res 6:(Suppl 12), 1998.
Ogden CL, Carroll MD, Kit BK, et al: Prevalence of obesity and trends in body mass index among US children and adolescents, 1999–2010, JAMA 30 (5):483–490, 2012.
Ramachandrappa S, Farooqi IS: Genetic approaches to understanding human obesity. J Clin Invest 121(6) 2080. 6, 2011. Samaha FF, Iqbal N, Seshadri P, et al: A low-carbohydrate as compared with a low-fat diet in severe obesity, N Engl J Med 348:2074–2081, 2003.
Schauer PR, Burguera B, Ikramuddin S, et al: Effect of laparoscopic Roux-en Y gastric bypass on type 2 diabetes mellitus, Ann Surg 238:467–484, 2003.
Service GJ, Thompson GB, Service FJ, et al: Hyperinsulinemic hypoglycemia with nesidioblastosis after gastric-bypass surgery, N Engl J Med 353:249–254, 2005.
Shah M, Simha V, Garg A: Long-term impact of bariatric surgery on body weight, comorbidities, and nutritional status,
J Clin Endocrinol Metab 91:4223–4231, 2006.
Snow V, Barry P, Fitterman N, et al: Pharmacologic and surgical management of obesity in primary care: a clinical practice guideline from the American College of Physicians, Ann Intern Med 142:525–531, 2005.
Sugarman HJ, Wolfe LG, Sica DA, et al: Diabetes and hypertension in severe obesity and effects of gastric bypass-induced weight loss, Ann Surg 237:751–756, 2003.
Tsai AG, Wadden TA: Systematic review: an evaluation of major commercial weight loss programs in the United States, Ann Intern Med 142:56–66, 2005.
Tuomilehto J, Lindstrom J, Eriksson JG, et al: Prevention of type 2 diabetes mellitus by changes in lifestyle among subjects with impaired glucose tolerance, N Engl J Med 344:1343–1350, 2001.
Wadden TA, West DS, Neiberg RH, et al: One-year weight losses in the Look AHEAD study: factors associated with success, Obesity (Silver Spring) 17(4):713–722, 2009.

Chưa có bình luận nào