/ TIN TỨC / Sống khỏe / Hệ thống nhóm máu ABO
5

Hệ thống nhóm máu ABO

Máu của con người được cấu tạo từ những thành phần cơ bản giống nhau, nhưng điều gì lại khiến chúng được phân chia làm các nhóm A, B, AB và O? Đó chính là do các hệ thống phòng thủ miễn dịch trên các tế bào.

Nhóm máu là nhóm các tế bào hồng cầu, được xác định căn cứ vào các đặc tính kháng nguyên khác nhau. Có rất nhiều hệ nhóm máu khác nhau, nhưng phổ biển nhất trong y học là hai hệ nhóm máu ABO và Rhesus, bài viết này chỉ đề cập đến hệ thống nhóm máu ABO.

5

Trong máu của người có chứa nguyên tố làm đông ( Kháng nguyên ) A, B và yếu tố đông máu (kháng thể ) A, B. Các kháng nguyên có trên bề mặt hồng cầu, còn các kháng thể có trong huyết tương (huyết thanh). Khi các kháng nguyên và các kháng thể cùng tên gặp nhau thì hiện tượng đông máu sẽ xảy ra ( phản ứng hòa tan máu ).Vì vậy, máu trong cơ thể người phải có kháng nguyên và kháng thể khác tên nhau.

Đầu những năm 1900, dựa trên sự hiện diện của các kháng nguyên trên màng hồng cầu, các nhà khoa học đã xác định rằng con người có 4 nhóm máu khác nhau: O, A, B và AB. Hệ thống phân loại nhóm máu này (gọi là hệ thống nhóm máu ABO) cung cấp cho bác sĩ các thông tin quan trọng để lựa chọn nhóm máu phù hợp trong việc truyền máu.

Năm 1901, Karl Landsteiner, sinh viên của trường đại học Austria Vienna là người đầu tiên phát hiện ra nhóm máu ABO. Phát hiện này có ảnh hưởng vô cùng lớn với nhân loại cho phép chọn đúng nhóm máu để truyền đã mở đường cho việc truyền máu an toàn. Năm 1930 Karl Landsteiner đã dành được giải Nobel.

Hệ thống nhóm máu ABO phân thành 4 nhóm:

Nhóm máu A: Trong máu có kháng nguyên A trên bề mặt hồng cầu và kháng thể B trong huyết tương.

Nhóm máu B: Trong máu có kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu và kháng thể A trong huyết tương.

Nhóm máu AB: Có cả kháng nguyên A và B trên bề mặt tế bào hồng cầu nhưng không có kháng thể A hay B nào trong huyết tương.

Nhóm máu O: Không có kháng nguyên A hay B nào trên bề mặt hồng cầu nhưng lại có cả kháng thể A và B trong huyết tương.

Tỷ lệ các nhóm máu trong hệ ABO:

Ở các nước châu Âu, người nhóm máu O chiếm phần nhiều. Ở Mỹ, nhóm O chiếm 46%, nhóm A chiếm 40%; ở Anh, người máu O chiếm 47%, người máu A chiếm 42%. Ở Nhật Bản, người nhóm máu A là chủ yếu.

Quốc gia có tỷ lệ người nhóm máu A nhiều nhất là nước Đức, chiếm 45%, máu O chiếm 41%.

Các nước Trung Á, Ấn Độ, Mông Cổ, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên … người nhóm máu B chiếm 30 -40%, có nơi còn vượt quá 50%.

Ở Việt Nam, tỷ lệ nhóm máu O là 42% ; nhóm A xấp xỉ 21%, nhóm B khoảng 20 %, nhóm AB khoảng 17%.

Sơ đồ truyền máu hệ ABO

1

Để việc truyền máu diễn ra an toàn, phải có sự tương thích giữa máu người  cho và máu người nhận. Nếu không, các tế bào hồng cầu từ máu cho sẽ bị đông kết. Các tế bào hồng cầu bị đông kết sẽ bị tan vỡ. Trong tế bào hồng cầu có chứa các hemoglobin, và các hemoglobin này sẽ trở nên độc hại với cơ thể khi nằm ngoài tế bào hồng cầu. Điều này gây sock phản vệ và có thể dẫn tới tử vong cho người nhận máu.

Sự di truyền nhóm máu ABO

Từ năm 1920, các nhà khoa học nhận thấy rằng các nhóm máu có thể di truyền cho thế hệ sau. Các nhà khoa học nhận định rằng họ có thể tiên đoán được nhóm máu tương đối của người con dựa trên nhóm máu của cha mẹ. Ngược lại, nhóm máu của con và của người cha (hoặc mẹ) đã biết cũng được sử dụng để xác định nhóm máu tương đối của mẹ (hoặc cha) chưa biết. Nhờ vậy, các nhà khoa học thời đó đã sử dụng nhóm máu để xác minh cha hoặc mẹ của một đứa trẻ. Tuy nhiên, việc xác định huyết thống dựa trên sự di truyền của nhóm máu chỉ mang tính tương đối nên độ chính xác không cao.

Hệ thống nhóm máu A, B, O được di truyền theo quy luật Mendel. Quy định nhóm máu gồm 3 gen mang tính trạng trội là Alen, Alen lA, lB và một mang tính trạng lặn là Alen lo. Vì vậy người nhóm máu A có thể mang kiểu gen lAlA hoặc lAlo; người nhóm máu B có thể mang kiểu gen lBlB hoặc lBlo; người có nhóm máu AB mang kiểu gen lAlB; người nhóm máu O mang kiểu gen lolo.

Các trường hợp kết hợp nhóm máu giữa cha và mẹ có thể sinh ra con có nhóm máu như sau ( với điều kiện không có đột biến):

Cha – Mẹ – Con:

1, O x O= O

2, O x A = O,A

3, O x B = O, B

4, O x AB = A, B

5,  A x A = O,A

6,  A x B = O, A, B, AB

7,  A x AB = A, B, AB

8,  B x B = O, B

9,  B x AB = A, B, AB

10, AB x AB = A, B, AB

Bảng 1. Nhóm máu của người con khi biết được nhóm máu của cha và mẹ

2

Bảng 2.Nhóm máu của người Cha khi biết được nhóm máu của Mẹ và Con

3

Nhìn vào bảng 2 ta thấy, chỉ có thể xác định tương đối nhóm máu của người Cha phải có.

  • Nếu Mẹ là B, Con là A thì người Cha là A hoặc AB.
  • Nếu Mẹ là AB, Con là A thì người cha sinh học có khả năng mang nhóm máu bất kỳ trong 4 nhóm máu. Điều này cho thấy nếu chỉ dựa trên nhóm máu, sẽ không có người đàn ông nào bị loại trừ khả năng là cha của đứa trẻ.
  • Đặc biệt, nếu Mẹ là AB thì Con không thể là O, nếu Mẹ là O thì con không thể là AB.

Như vậy, việc xác định huyết thống dựa vào nhóm máu chỉ mang tính chất tương đối, không mang tính khẳng định.

 

 

Chưa có bình luận nào