Điện thoại CSKH: 19008082 - 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ ----- Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ
Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN > Y học thường thức > Vai trò của xét nghiệm Anti-Xa trong kiểm soát an toàn thuốc kháng đông

Vai trò của xét nghiệm Anti-Xa trong kiểm soát an toàn thuốc kháng đông

Thuốc chống đông máu Heparin được sử dụng như loại thuốc chính trong điều trị cho bệnh nhân tăng huyết khối. Việc điều chỉnh liều dùng của thuốc Heparin rất quan trọng để kiểm soát tốt nguy cơ hình thành và biến chứng do huyết khối, đồng thời hạn chế tác dụng phụ do dùng thuốc. Xét nghiệm định lượng Anti-Xa được sử dụng để điều chỉnh liều dùng thuốc chống đông máu Heparin phù hợp và an toàn.

1. Tác dụng và hoạt động của thuốc chống đông máu Heparin

Thuốc chống đông máu Heparin là một hỗn hợp các chuỗi Mucopolysaccharide không đồng nhất, có chiều dài khác nhau và trọng lượng phân tử vào khoảng 3000 – 30.000 dalton. Chế xuất Heparin thường được trích ly từ màng ruột của bò hoặc lợn hoặc trích xuất từ tế bào mast của tổ chức liên kết hay còn gọi là heparin tự nhiên.

Thuốc chống đông Heparin hiện nay trên thị trường gồm nhiều loại Heparin khác nhau kết hợp với các thành phần phụ tùy từng công ty sản xuất. Do Heparin không hấp thu qua đường ruột nên thuốc chống đông Heparin không dùng qua đường uống mà truyền trực tiếp vào cơ thể qua đường tiêm, truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. 

Cơ chế tác động của thuốc chống đông Heparin là gián tiếp thông qua Antithrombin. Cụ thể, Anti-thrombin là một loại protein có đặc tính kháng đông, tuy nhiên hoạt tính này của chúng rất yếu và chậm khi tồn tại bình thường trong máu. Nhưng khi có mặt của Heparin, chất này sẽ kết hợp đặc hiệu với Anti-thrombin, làm tăng hoạt tính chống đông lên gấp hàng ngàn lần.

Như vậy, khi dùng Heparin người bệnh huyết khối và biến chứng do huyết khối có thể ngăn ngừa đông máu một cách hiệu quả. Tuy nhiên nếu dùng quá mức, hoạt động của Antithrombin sẽ gây tác hại ngược lại ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh.

Trong điều trị bệnh tăng huyết khối hiện nay, thuốc chống đông Heparin là một trong những loại thuốc điều trị chính. Cụ thể là các trường hợp bệnh sau:

  • Huyết khối động mạch vành.
  • Nghẽn mạch huyết khối tĩnh mạch.
  • Chống đông máu trong phẫu thuật bypass tim phổi.
  • Huyết khối gây nghẽn mạch máu não.
  • Tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC). 
  • Phòng ngừa huyết khối khi chạy thận nhân tạo.
  • Phòng ngừa tắc tĩnh mạch sau phẫu thuật hoặc bệnh lý khác.

2. Tại sao cần xét nghiệm Anti-Xa cho người dùng Heparin?

Thuốc chống đông máu Heparin có tác dụng rất tốt trong phòng ngừa, kiểm soát sự hình thành huyết khối gây biến chứng nguy hiểm song nếu dùng quá liều, người bệnh có thể gặp biến chứng nguy hiểm như:

  • Loãng xương

Dùng Heparin quá liều làm tăng hoạt động của hủy cốt bào dẫn đến loãng xương, tăng nguy cơ mắc các bệnh về xương.

  • Giảm tiểu cầu

Dùng Heparin điều trị không đúng liều có thể gây xuất huyết, huyết khối động mạch nguy hiểm do giảm tiểu cầu.

  • Chảy máu

Những bệnh nhân có tiền sử chảy máu tiêu hóa, người mắc bệnh thận, tuổi cao, đang phẫu thuật hoặc có lượng tiểu cầu giảm có thể gặp biến chứng chảy máu khi dùng Heparin. Ngoài ra, các bệnh nhân đồng thời điều trị bằng thuốc kháng tiểu cầu cũng thường gặp tác dụng phụ tương tự này.

  • Tác dụng phụ khác

Một số tác dụng phụ khác khi dùng thuốc chống đông máu Heparin bao gồm: hoại tử da khu trú, tăng men gan, phản ứng quá mẫn, giảm hormone aldosterone,…

Để giảm nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của những tác dụng phụ trên, sử dụng thuốc chống đông Heparin đúng liều là rất quan trọng. Xét nghiệm Anti-Xa sẽ giúp bác sĩ đánh giá và điều chỉnh liều dùng Heparin phù hợp với sức khỏe người bệnh.

3. Xét nghiệm định lượng Anti-Xa thực hiện thế nào?

Xét nghiệm định lượng Anti-Xa phân tích hoạt độ chất này trong mẫu bệnh phẩm, cụ thể là máu của người bệnh. Kết quả xét nghiệm giúp bác sĩ đánh giá nồng độ Heparin trong máu người bệnh, dựa trên triệu chứng và các biến chứng người bệnh gặp phải để điều chỉnh liều dùng Heparin sao cho phù hợp.

Đây là xét nghiệm bắt buộc nhằm theo dõi khi bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc chống đông máu Heparin. Do đó, bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn xét nghiệm của bác sĩ, xét nghiệm đúng thời điểm theo yêu cầu để theo dõi, đề phòng biến chứng bệnh hiệu quả.

Nguyên lý của xét nghiệm định lượng Anti-Xa kiểm tra lượng XA dư trong máu bằng phương pháp định lượng quang học, dựng đường cong chuẩn hóa để suy ra lượng XA kết hợp với phức hợp Antithrombin – heparin trong máu bệnh nhân. Từ đó, có thể định lượng nồng độ và hiệu quả của Heparin trong máu bệnh nhân khi không giảm antithrombin. Điều này có nghĩa là một lượng nhỏ dân số bị giảm antithrombin thì xét nghiệm định lượng Anti-Xa không còn chính xác.

Xét nghiệm định lượng Anti-Xa được thực hiện tại nhiều cơ sở y tế hiện nay, bác sĩ sẽ lấy mẫu máu tĩnh mạch của bệnh nhân, sau đó phân tích bằng máy để định lượng Anti-Xa. Các bước xét nghiệm định lượng tạp sẽ được thực hiện bởi các kỹ thuật viên được đào tạo và có kinh nghiệm.

Lưu ý: 

1. Phạm vi tham chiếu cho mức độ Anti-Xa phụ thuộc vào chất chống đông máu đang sử dụng, loại, liều lượng, lịch trình và chỉ định. Khi một cá nhân không dùng heparin hoặc DOAC, nồng độ Anti-Xa phải bằng 0 hoặc không thể phát hiện được.

2. Bác sĩ phải xác định đo nồng độ đỉnh hay nồng độ đáy dể yêu cầu điều dưỡng lấy máu ở thời điểm thích hợp và gửi về phòng xét nghiệm trong vòng 1 giờ.

– Heparin không phân đoạn (UFH) truyền liên tục: 6h sau tiêm liều đầu tiên, sau đó lấy bất kỳ thời điểm nào mỗi khi chỉnh liều.

– Tiêm ngắt quãng heprrin không phân đoạn và heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH): 4h sau tiêm (nồng độ đỉnh) hoặc trước khi tiêm liều kế tiếp (nồng độ đáy).

– DOACs (thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp): 3h sau uống (nồng độ đỉnh) hoặc trước khi uống liều kế tiếp (nồng độ đáy).

Ngoài xét nghiệm này, bệnh nhân có thể phải thực hiện đồng thời nhiều xét nghiệm đánh giá rối loạn đông máu hay nguy cơ biến chứng do huyết khối khác. Điều quan trọng là tìm ra nguyên nhân gây rối loạn đông máu để điều trị tận gốc nguyên nhân bằng phác đồ chính xác.

Xét nghiệm định lượng Anti-Xa có vai trò quan trọng trong theo dõi bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông Heparin trong điều trị bệnh huyết khối. 

 

3.35