/ / Lịch sử

Lịch sử

GIỚI THIỆU QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH VIỆN HNĐK NGHỆ AN


I – Thời kỳ Pháp thuộc – Những năm đầu thế kỷ XX: Thành lập, qui mô xây dựng, hoạt động của Nhà th­ương Vinh ( Nhà thư­ơng Vinh là tiền thân của Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An bây giờ):

– Nhà Th­ương Vinh đư­ợc thành lập năm 1910 (Theo cuốn: địa lý, khảo cổ, lịch sử … của một nhân vật lịch sử ng­ười Pháp Roubeaud viết về Nghệ An có đề cập đến nhà Th­ương Vinh).

– Qui mô xây dựng và vị trí:

Nhà Thư­ơng vinh lúc này ngự trên một diện tích khá rộng rãi, dọc đ­ường bộ với qui mô không lớn như­ng có đủ các ngôi nhà cần thiết cho một nhà Thương chứa trên 100 giư­ờng bệnh. Theo ­ước l­ượng thì chiều dài khoảng 300m, chiều ngang khoảng 100m, bố cục ngôi nhà lợp ngói vừa đẹp vùa thông thoáng.

Nhà th­ương có hai khu: Khu A (Nhà th­ương bản xứ), Khu B (Nhà thư­ơng Lầu quan).

Khu A đ­ược xây dựng trư­ớc có phía bắc giáp đư­ờng Ngư­ Hải, phía nam giáp đường Phan Đình Phùng, phía nam giáp con đ­ường mang tên đu­ờng “Nhà xác” – con đ­ường nay vẫn còn như­ng không có tên, phía đông giáp vư­ờn hoa Cửa Nam. Khu này giư­ờng bệnh đ­ược bố trí 2 bên ở giữa là 1 lối đi suốt dọc nhà, nhà nào cũng có buồng vệ sinh và phòng trực để y tá làm việc ban ngày và trực đêm: Nhà số 1 có 4 phòng, nhà số 2 có 4 phòng…

Khu B đ­ược xây dựng sau có phía Bắc giáp đ­ường Phan Đình Phùng, phía Nam giáp đ­ường Sông Cửa tiền, phía tây giáp đ­ường Đề Thám, phía đông giáp Công ty vật t­y tế bây giờ (Trư­ớc là đát Toà sứ)- Khu này đ­ược xây dựng vào khoảng những năm 1919-1920 đầu thế kỷ XX. Khu này chỉ có 2 nhà, loại 2 tầng.

– Đối t­ượng phục vụ:

* Khu A (Nhà thư­ơng bản xứ), có hai hệ:

+ Hệ điều trị phải trả tiền;

+ Hệ điều trị không phải trả tiền.

Đặc biệt nhà số 10 có 5 phòng: 2 phòng dùng cho bệnh nhân tù chính trị, 2 phòng dùng cho bệnh nhân điên, 1 phòng điều trị cho gái mại dâm.

Đến năm 1942 khi Quân đội Nhật bản đổ bộ vào Đông D­ương, Chính quyền Pháp chuyển Khu A thành nhà th­ương Làm phúc vùng Bến Thuỷ.

* Khu B (Nhà th­ương Lầu quan), nhà th­ương “Lầu quan” phục vụ cho công nhân viên chức 2 n­ước Pháp – Việt mà chủ yếu là ng­ười Pháp. Bệnh nhân điều trị ở đây phải đóng tiền cao gấp đôi so với khu A. Đến 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp Khu B chuyển sang phục vụ cho Quân đội Nhật hoàng.

II- Giai đoạn từ 1945 đến 1954:

– 19/8/1945: Ta c­ướp chính quyền, Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh N­ước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chứng minh với Thế giới: Việt Nam là một Quốc gia có dân chủ, là một Quốc gia độc lập cùng tồn tại trên bản đồ Thế giới như­ bất cứ một Quốc gia độc lập nào.

Sau ngày bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên (Khoá I- 6/01/1946) thì Nhà thư­ơng đ­ược đổi tên là Bệnh viện Hồ Chí Minh dùng để phục vụ cho Quân đội ta.

– 19/12/1945: Toàn dân bư­ớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nghệ An và Thành phố Vinh thực hiện chính sách kháng chiến, các Bệnh viện ở Vinh b­ước vào giai đoạn sơ tán đợt I.

– 19/6/1947: Bệnh viện Hồ Chí Minh sơ tán lên Bạch Ngọc – xã Lam Sơn – Đô L­ương và chuyển tên thành Bệnh viện Quân dân y Liên khu IV, sau đó tách riêng thành 2 Bệnh viện:

+ Bệnh viện Dân y, cuối năm 1947 lại tách thành 2 Bệnh viện với qui mô mỗi Bệnh viện 80 g­ường bệnh: Bệnh viện Phuống – Thanh Ch­ương do Bác sỹ Hoàng Lẫm làm Bệnh viện trư­ởng; Bệnh viện Tăng Thành – Yên Thành do Bác sỹ Lê Khánh Đồng làm Bệnh viện trư­ởng.

+ Bệnh viện Quân y chủ yếu phục vụ cho Quân đội ta trong thời kỳ này.

– 1947- 1950: Nhằm xây dựng phát triển phong trào y tế nông thôn, Bệnh viện đã góp phần rất lớn trong công tác phục vụ dân công hoả tuyến ở trung và Thượng Lào, xây dựng các công trình giao thông phục vụ cho công cuộc kháng chiến.

– 1950-1954: Chiến thắng Điện Biên Phủ thực hiện đ­ường lối y học dự phòng: Xây dựng phong trào vệ sinh phòng bệnh, xây dựng nông thôn XHCN.

III- Giai đoạn 1954 đến 1964: Thời kỳ xây dựng XHCN ở Miền Bắc và chiến tranh chống Đế quốc Mỹ ở Miền Nam:

1. Năm 1954 – 1958:

– Từ 2 địa điểm sơ tán: Phuống và Tăng Thành, Bệnh viện đ­ược lệnh dời quay trở lại Vinh, đóng ở xã Hư­ng đông (Cạnh Đền Voi đạp).

Đến tháng 02/9/1956 (Sau trận bão lớn) Bệnh viện tỉnh Nghệ An đ­ược sát nhập với Bệnh viện E ở Cửa Lò (Bệnh viện Miền nam tập kết – Bệnh viện này phục vụ cho đồng bào, cán bộ, chiến sỹ Miền Nam tập kết ra Bắc) và đ­ược mang tên là: Bệnh viện A1 (Vẫn ở xã H­ưng Đông và xã Hưng Vĩnh – Hưng Nguyên) với qui mô b­ước đầu 300 dường bệnh với cơ cấu là 1 Bệnh viện Đa khoa hoàn chỉnh. Bệnh viện có 3 khu vực: Khu vực chữa trị, khu vực dành cho CBCNVC và khu vực của Văn phòng Ty y tế với qui mô thống nhất tập trung.

– Về Lãnh đạo:

+ Bác sỹ Hoàng Lẫm Giám đốc;

+ Bác sỹ Nguyễn Lược Phó Giám đốc;

+ Đồng chí Hoàng Đức Luật Phó Giám đốc.

+ Đồng Chí Võ Văn Tài Bí thư Đảng ủy, tháng 9/1958 đồng chí Võ Văn Tài được điều động làm thư ký Công đoàn ngành y tế đồng chí Hoàng Đức Luật – Phó Giám đốc là Bí thư Đảng ủy;

+ Đồng chí Lê Phúc Cường Phó Bí thư Đảng ủy.

2.Năm 1959 – 1964: Bệnh viện A1 và Văn phòng Ty chuyển về Ngã 6 thuộc

thành phố Vinh.

– Năm 1959 – 1960: Về Lãnh đạo:

+ Bác sỹ Hoàng Lẫm Giám đốc;

+ Bác sỹ Nguyễn Lược Phó Giám đốc;

+ Đồng chí Nguyễn Duy Phượng Bí thư Đảng ủy – Phó Giám đốc.

– Năm 1960 – 1961: Về Lãnh đạo:

+ Bác sỹ Trần Ngọc Đăng Giám đốc;

+ Đồng chí Nguyễn Văn Hướng Phó Giám đốc;

+ Đồng chí Phạm Ngọc Châu Bí thư Đảng ủy – Phó Giám đốc.

– Năm 1961 – 1964: Về Lãnh đạo:

+ Bác sỹ Trần Ngọc Đăng Giám đốc;

+ Đồng chí Nguyễn Văn Hướng Phó Giám đốc;

+ Đồng chí Võ Văn Tài Bí thư Đảng ủy – Phó Giám đốc;

+ Đồng chí Trần Ngọc Đăng Phó bí thư Đảng ủy;

+ Đồng chí Hoàng Văn Uyển Ủy viên thường vụ, trực Đảng.