Điện thoại CSKH: 19008082 - 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ ----- Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ
Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An > Đào tạo liên tục > Bệnh thận mạn tính – Phát hiện sớm và dự phòng hiệu quả 

Bệnh thận mạn tính – Phát hiện sớm và dự phòng hiệu quả 

 1. Đặt vấn đề

Theo Bộ Y tế, gần 850 triệu người đang chịu gánh nặng của bệnh thận mạn tính trên toàn cầu, chiếm hơn 10% dân số thế giới. Tại Việt Nam, ước tính có tới 8,7 triệu người trưởng thành đang phải sống chung với căn bệnh này, tương đương gần 12,8% dân số trưởng thành.

Trong số hàng triệu người bệnh thận mạn tính (CKD) có đến hơn 90% hoàn toàn không nhận thức được tình trạng sức khỏe của mình cho đến khi bệnh đã tiến triển sang giai đoạn muộn, gây ra những gánh nặng cho bản thân người bệnh, gia đình và xã hội.

Bệnh thận mạn tính thường được ví như một “kẻ giết người thầm lặng” bởi diễn tiến âm thầm với triệu chứng không rõ ràng ở giai đoạn đầu. Theo dự báo CKD sẽ sớm trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 5 trên toàn cầu vào năm 2040 nếu chúng ta không có những biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả.

Tại Việt Nam, trong số hàng triệu bệnh nhân CKD, có khoảng 800.000 người đã tiến triển đến giai đoạn cuối (ESKD), giai đoạn chức năng thận suy giảm nghiêm trọng và cần phải điều trị thay thế thận như lọc máu hoặc ghép thận để duy trì sự sống. Đáng lưu ý, Việt Nam hiện có hơn 400 đơn vị chạy thận nhân tạo và cung cấp dịch vụ lọc máu cho khoảng 30.000 bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối mỗi năm, tuy nhiên mới chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu của bệnh nhân cần lọc máu trên cả nước.

Tuy nhiên, theo các nghiên cứu, có đến 90% số người mắc CKD không hề biết mình mang bệnh. Chính thực tế này khiến cho bệnh có thể diễn tiến âm thầm trong nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, cho đến khi chức năng thận suy giảm nghiêm trọng và xuất hiện các biến chứng nguy hiểm như suy tim, đột quỵ, thiếu máu, loãng xương… Lúc này, việc điều trị trở nên phức tạp, tốn kém và hiệu quả cũng giảm đi đáng kể.

Trong khi đó, nếu bệnh nhân được sàng lọc và chẩn đoán sớm từ các tuyến y tế cơ sở ngay từ giai đoạn đầu của bệnh, họ có thể được can thiệp và điều trị bằng các phương pháp đơn giản, hiệu quả và ít tốn kém.

2. Định nghĩa

Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thận mạn tính khi thoả mãn một trong hai tiêu chuẩn sau:

2.1. Biểu hiện tổn thương thận (1 hoặc hơn) tồn tại kéo dài trên 3 tháng

– Có Albumin nước tiểu ( tỷ lệ albumin/creatinin nước tiểu > 30mg/g hoặc albumin nước tiểu 24h> 30mg/24h).

– Bất thường cặn lắng nước tiểu.

– Bất thường điện giải hoặc các bất thường khác do rối loạn chức năng ống thận.

– Bất thường về mô bệnh học thận.

– Xét nghiệm hình ảnh học phát hiện bất thường.

– Những bệnh nhân sau ghép thận cũng được xếp loại mắc bệnh thận mạn tính.

2.2. Giảm mức lọc cầu thận (GFR< 60ml/ph/1,73 m2) tồn tại kéo dài trên 3 tháng

Với mức lọc cầu thận được đánh giá dựa vào mức lọc cầu thận ước tính qua công thức MDRD, hoặc mức độ thanh thải creatinin ước tính theo công thức Cockcroft- Gault.

3. Nguyên nhân gây bệnh

3.1. Bệnh cầu thận mạn

– Nguyên phát có kèm hội chứng thận hư hoặc không.

– Thứ phát: lupus, đái tháo đường, Schonlein- Henoch có tổn thương thận…

3.2. Bệnh mạch thận

– Bệnh lý vi mạch.

– Bệnh lý mạch máu lớn.

3.3. Bệnh ống kẽ thận

– Viêm thận bể thận mạn do nhiễm khuẩn mạn tính.

– Viêm thận kẽ do dùng thuốc giảm đau kéo dài hoặc do tăng acid uric máu.

3.4. Bệnh lý tiết niệu

– Nhiễm trùng đường tiết niệu.

– Tắc nghẽn đường tiết niệu, trào ngược bàng quang niệu quản.

– Sỏi tiết niệu.

– Dị dạng đường tiết niệu.

3.5. Bệnh thận bẩm sinh, di truyền

– Thận đa nang.

– Thận nhiều nang đơn.

– Hội chứng Alport.

– Bệnh thận chuyển hoá.

3.6. Bệnh lý thận trong ung thư

– Leukemia.

– Đa u tủy xương.

– Lymphoma.

– Ung thư tế bào thận, đường tiết niệu sinh dục, phổi, đầu cổ.

– Bệnh thận do thuốc thường dùng trong điều trị ung thư.

4. Triệu chứng

– Mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, mất tập trung.

– Chán ăn, ăn không ngon, mất khẩu vị.

– Suy nhược cơ thể, sụt cân.

– Ngứa da.

– Hơi thở có mùi, buồn nôn.

– Thay đổi khi đi tiểu: đi tiểu nhiều về đêm, tiểu bọt nhiều, lượng nước tiểu ít hoặc nhiều hơn bình thường, nước tiểu sẫm máu, có máu trong nước tiểu. Cảm giác căng tức hoặc đi tiểu khó khăn.

– Phù: tay, chân, mắt cá chân, mặt.

– Đau lưng, đau mỏi vùng thắt lưng.

– Khó thở, đau ngực có thể do tràn dịch màng phổi, màng tim.

5. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mạn hoặc đẩy nhanh tiến triển

5.1 Các yếu tố làm thận tăng nhạy cảm

– Tuổi cao (thường trên 60 tuổi).

– Tiền sử gia đình có bệnh thận giai đoạn cuối hoặc bệnh thận di truyền.

– Đái tháo đường.

– Tăng huyết áp.

– Gout.

-Tiền sử có tổn thương thận cấp.

– Bệnh tim mạch (bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim mạn tính, bệnh mạch ngoại vi hay bệnh mạch não) hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch (hút thuốc, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa).

– Giảm khối lượng mô thận.

– Nhẹ cân khi sinh/sinh non.

– Có 1 thận chức năng duy nhất.

– Tiền sản giật/sản giật.

– Béo phì (BMI ≥25 kg/m2).

– Điều kiện kinh tế xã hội, môi trường, quần thể mang các biến thể gen gây bệnh cao, chủng tộc Châu Á.

5.2. Các yếu tố khởi động tổn thương thận trực tiếp

– Suy thận cấp/ Tổn thương thận cấp.

– Có bệnh lý tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc có thay đổi cấu trúc đường tiết niệu, sỏi thận tái phát hay phì đại tuyến tiền liệt.

– Có nhiễm trùng mạn tính, nhiễm trùng hệ thống (bao gồm cả viêm gan virus B, C, HIV, SARS-CoV-2).

– Bệnh đa hệ thống, bệnh tự miễn, bệnh ác tính với nguy cơ tổn thương thận tiềm tàng hoặc thường đi kèm với BTM, ví dụ lupus đỏ hệ thống.

– Sử dụng thuốc hay cơ chất có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng thận hoặc gây độc thận, ví dụ thuốc ức chế calcineurin (ciclosporin hay tacrolimus), hợp chất chứa nguyên tố lithium hay thuốc chống viêm không steroid (sử dụng dài hạn), thuốc kháng virus, kim loại như chì, thủy ngân, thuốc trừ sâu…, và chiếu tia.

– Tăng huyết áp.

– Đái tháo đường.

– Được phát hiện tình cờ có đái máu hay protein nước tiểu.

5.3. Các yếu tố thúc đẩy tiến triển

– Protein nước tiểu dai dẳng.

– Tăng huyết áp kiểm soát kém.

– Đái tháo đường kiểm soát kém.

– Bệnh lý tim mạch đi kèm hút thuốc.

– Rối loạn lipid máu.

– Điều trị thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) kéo dài.

– Tắc nghẽn đường tiết niệu.

– Nhiễm toan chuyển hóa.

– Tổn thương thận cấp và dùng chất độc thận.

– Nhập viện vì suy tim.

– Người châu Á.

– Béo phì.

6. Dự phòng

– Hãy tham gia bất kỳ hoạt động thể chất nào mà ta ưa thích như đi bộ, đạp xe, bơi lội… để duy trì sự năng động của cơ thể, giúp phòng tránh bệnh tật nói chung và bệnh thận nói riêng

– Uống đủ nước mỗi ngày, không nhịn tiểu

– Không tự dùng thuốc điều trị vì một số thuốc gây tổn thương thận hoặc bệnh thận nếu dùng thường xuyên. Cần thông báo với bác sĩ về tình trạng thận của mình và luôn tuân thủ điều trị theo toa của bác sĩ

– Không hút thuốc lá

– Thường xuyên kiểm soát lượng đường trong máu và thường xuyên kiểm tra chức năng thận để ngăn chặn tổn thương thận do tiểu đường.

– Theo dõi huyết áp vì huyết áp cao gây tổn thương thận. Nếu huyết áp tăng, cần đi khám bác sĩ để được tư vấn, điều trị bệnh và thường xuyên theo dõi huyết áp.

– Duy trì thói quen ăn uống hợp lý, lành mạnh: tránh lạm dụng thức ăn nhanh, nhiều dầu mỡ, tránh ăn mặn, hạn chế rượu bia, chất kích thích, thực phẩm không rõ nguồn gốc.

– Ngủ đủ giấc

7. Sàng lọc và tầm soát sớm bệnh thận mạn

– Các đối tượng có yếu tố nguy cơ ở mục 5 cần được chủ động tầm soát bằng cách xác định MLCT dựa vào creatinine máu và xét nghiệm UACR nước tiểu 1 năm 1 lần.

– Xét nghiệm nước tiểu.

– Các thăm dò hình ảnh: Siêu âm thận, Chụp hệ tiết niệu…

– Sinh thiết thận: thường được chỉ định khi có giảm chức năng thận và/hoặc có protein niệu tới mức thận hư, và khi chẩn đoán chưa rõ sau khi đã đánh giá phù hợp.

– Ngoài ra, nên đi khám định kỳ và làm các xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm máu, đồng thời siêu âm thận để phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời

 Kết luận

– Bệnh thận mạn tính là bệnh phổ biến trong cộng đồng, có xu hướng ngày càng tăng và thường khó phát hiện ở những giai đoạn đầu do không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt, khi đã xuất hiện triệu chứng là lúc bệnh ở giai đoạn nặng. Nếu phát hiện sớm sẽ giúp ngăn chặn tiến triển đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối.

– Bệnh thận mạn nếu không phát hiện sớm sẽ tiến triển âm thầm đến giai đoạn cuối rất nhanh. Vì vậy, dù khỏe mạnh vẫn nên khám sức khỏe tổng quát hàng năm, đặc biệt chú ý đến xét nghiệm, cận lâm sàng để tầm soát bệnh thận. Với người đã có bệnh, cần tuân thủ điều trị, thay đổi lối sống và tái khám định kỳ theo đúng hướng dẫn của bác sĩ.