Điện thoại CSKH: 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An > GIỚI THIỆU > Khoa Phòng > Khoa Giải phẫu bệnh

Khoa Giải phẫu bệnh

  1. Bộ phận xét nghiệm tế bào học: tầng 2, thuộc khoa khám bệnh
  • Bộ phận xét nghiệm mô bệnh học và Bộ phận đại thể: được thực hiện tại tầng 1.
  1. Email: giaiphaubenhna@gmail.com
  2. Tổ chức nhân sự:
  • Bác sĩ:

+ BSCKI. Nguyễn Tài Tiến – Trưởng khoa

+ BS. Đinh Thị Thùy

+ BSCKI. Lê Văn Hưng

+ BS. Nguyễn Thị Phương Thảo

  • Kĩ thuật viên:

+ KTV. Vũ Thị Hoài – KTV trưởng

+ KTV. Phan Thị Trang

+ KTV. Nguyễn Ngọc Tân

+ KTV. Nguyễn Thị Thúy Vân

+ KTV. Lê Thanh Tài

+ KTV. Trần Thị Chín

+ KTV. Phạm Thị Lý

+ KTV. Biện Văn Gíap

  • Y công:

+ Võ Thảo

Lịch sử phát triển và lãnh đạo qua các thời kì.

  • Năm 1962 – 1969: Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An được thành lập năm 1962 với tên gọi đầu tiên là Phòng Giải phẫu bệnh, do Y sỹ Phan Sỹ Kỷ ( sinh năm 1939) làm trưởng phòng.
  • Năm 1969 – 1972: Đỗ Ngọc Tuân (SN 1939) – Trưởng phòng.
  • Năm 1972 – 1984: Đỗ Quốc Uy (SN 1948) – Trưởng phòng.
  • Năm 1985 – 1992: Nguyễn Đình Lân (SN 1949) – Quyền trưởng khoa.
  • Năm 1993 – 05/2008: Đỗ Quốc Uy (SN1948) – Trưởng khoa.
  • Năm 05/2008 – 2013: Trần Mậu Hóa (SN 1952) – Trưởng khoa.
  • Năm 06/2013 – Nay: Nguyễn Tài Tiến (SN 1979) – Trưởng khoa.
  • Trải qua gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, với nhiều cố gắng và nỗ lực xây dựng thương hiệu, hiện nay khoa Giải phẫu bệnh đang dần từng bước phát triển cả về chuyên môn và nhân lực, ngày càng tạo được uy tín với đồng nghiệp, người bệnh trong và ngoài tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của bệnh viện.

Chức năng, nhiệm vụ của khoa

Với đặc thù là khoa cận lâm sàng, hiện nay khoa Giải phẫu bệnh có chức năng, nhiệm vụ chính sau:

  1. Xét nghiệm, chẩn đoán mô bệnh học và tế bào học phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị.
  2. Nghiên cứu khoa học: thực hiện các đề tài cấp cơ sở, cấp bộ và cấp nhà nước.
  3. Tham gia công tác đào tạo và tập huấn.
  4. Tham gia công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật và giúp đỡ tuyến dưới về chuyên nghành Giải phẫu bệnh.

HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN

  1. Bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán tế bào học: Phòng xét nghiệm tế bào (Cytology laboratogy), tầng 2, đối diện khoa Huyết học, thuộc khoa Khám bệnh.
  • Đây là xét nghiệm lấy tế bào từ tổ chức phết lên lam kính rồi nhuộm bằng các loại thuốc nhuộm khác nhau để đánh giá sự thay đổi về mặt tế bào trên kính hiển vi quang học, từ đó đưa ra chẩn đoán tế bào học.

Gồm các kĩ thuật:

+ Xét nghiệm và chẩn đoán tế bào học qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): các hạch, các khối u, khối sưng dưới da, tuyến giáp, tuyến vú, tinh toàn, các tổn thương trong cơ thể,…

+ Xét nghiệm chẩn đoán tế bào học bong bằng phương pháp  nhuộm Papanicolaou: sang lọc và chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung.

+ Xét nghiệm các loại dịch nhuộm và chẩn đoán tế bào học: các dịch tự nhiên (máu, nước tiểu, dịch khớp, nước não tủy…) hoặc dịch màng bụng, màng phổi, màng tim.

 

  1. Bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học.
  • Xét nghiệm trước phẫu thuật (Bệnh phẩm sinh thiết).
  • Xét nghiệm các mô sau thủ thuật và phẫu thuật gồm các hạch, khối u (dạ dày, đại tràng, trực tràng, phổi…), các tổn thương bên trong và bên ngoài cơ thể.

Gồm các kỹ thuật:

+ Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp nhuộm Hematoxylin Eosin.

+ Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp nhuộm PAS (Periodic Acide – Schiff).

+ Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp nhuộm Giem sa.

 

  1. Bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán sinh thiết tức thì bằng phương pháp cắt lạnh.

Là phương pháp xét nghiệm mô bệnh học nhanh, thường được áp dụng trong phẫu thuật. Trong quá trình phẫu thuật, phẫu thuật viên lấy một phần hoặc toàn bộ u chuyển đến khoa giải phẫu bệnh. Các bác sĩ giải phẫu bệnh tiến hành cắt bệnh phẩm trên máy cắt lạnh để làm tiêu bản. Dựa vào tiêu bản này, các bác sĩ giải phẫu bệnh có thể chẩn đoán xác định (có tổn thương ung thư hay không, loại mô học,…), kiểm tra các đầu diện cắt, kiểm tra tình trạng di căn ngay trong lúc phẫu thuật. Quy trình này được thực hiện trong vòng 10 – 15 phút, giúp cho phẫu thuật viên lựa chọn các bước xử lý tiếp theo (cắt bỏ rộng rãi hay bảo tồn, nạo vét hạch,…). Bệnh nhân và phẫu thuật viên được lợi là không phải phẫu thuật lần 2.