Điện thoại CSKH: 19008082 - 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ ----- Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ
Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN > TIN TỨC > Huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch não

I. Huyết khối tĩnh mạch não là gì?

1.1 Huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN) là bệnh lý huyết khối của hệ thống tĩnh mạch não, bao gồm huyết khối các xoang tĩnh mạch nông, xoang tĩnh mạch não sâu cũng như các tĩnh mạch vùng vỏ não.

HKTMN chiếm 0,5-1% tổng số các người bệnh đột quỵ não. HKTMN gặp ở người trẻ nhiều hơn, tuổi trung bình 33 tuổi, nữ chiếm 2/3 đặc biệt là ở phụ nữ mang thai, hậu sản, dùng thuốc tránh thai kéo dài hoặc các tình trạng tăng đông, trong đó thuốc tránh thai đường uống kéo dài ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ là nguyên nhân thường gặp.

1.2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Có rất nhiều nguyên nhân được đề cập đến, tuy nhiên khoảng 1/3 các trường hợp không tìm thấy bất kỳ nguyên nhân nào mặc dù được thăm khám và làm xét nghiệm đầy đủ.

Nguyên nhân mắc phải:

  • Có thai, hậu sản hoặc sử dụng các thuốc tránh thai chứa estrogen được coi là yếu tố làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch.
  • Ung thư, rối loạn sinh tủy, mất nước, rối loạn đông máu, hội chứng kháng phospholipid.
  • Các nguyên nhân nhiễm khuẩn như viêm màng não, viêm các xoang, nhiễm khuẩn vùng hàm mặt, viêm tai xương chũm, chấn thương sọ não hở.

Nguyên nhân di truyền

  • Thiếu hụt Antithrombin III, thiếu hụt protein C, protein S, đột biến yếu tố V Leiden, đột biến gen prothrombin.

 

  1. Triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch não

Triệu chứng lâm sàng thường đa dạng, tiến triển từ từ và không đặc hiệu. Các triệu chứng thường tùy thuộc vào vị trí huyết khối, xoang, tĩnh mạch bị tắc.

  • Đau đầu: gặp ở 90% các trường hợp HKTMN. Thường đau đầu tăng dần mặc dù đã được điều trị với thuốc giảm đau, đau tăng về đêm, tăng khi làm nghiệm pháp valsava. Một số ít các trường hợp đau đầu sét đánh giống trong các trường xuất huyết dưới nhện.
  • Buồn nôn và nôn, giảm thị lực, phù gai thị có thể gặp do tăng áp lực nội sọ.
  • Các dấu thần kinh khu trú: gặp khoảng 44% các trường hợp HKTMN, rối loạn cảm giác, yếu vận động nửa người, rối loạn ngôn ngữ.
  • Các cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể gặp trong khoảng 30- 40% các trường hợp.
  • Rối loạn ý thức theo nhiều mức độ từ lú lẫn nhẹ đến hôn mê.
  1. Cận lâm sàng Huyết khối tĩnh mạch não
  • Chụp cộng hưởng từ tĩnh mạch não (MRV) được khuyến cáo ở những bệnh nhân nghi ngờ HKTMN hoặc chụp cắt lớp vi tính mạch máo não thì tĩnh mạch nếu MRV không sẵn có.
  • Các xét nghiệm khác: Công thức máu để tìm các bệnh lí đa hồng cầu, giảm tiểu cầu trong tắc mạch giảm tiểu cầu, tăng bạch cầu trong các trường hợp nhiễm khuẩn. Các xét nghiệm chức năng gan, thận loại trừ hội chứng thận hư, xơ gan. Tốc độ máu lắng, các xét nghiệm chức năng đông máu cũng cần thực hiện ở bệnh nhân HKTMN. Ngoài ra, nếu nghi ngờ bệnh lí ác tính cần tiến hành các xét nghiệm phù hợp như x- quang phổi, siêu âm và những thăm dò hình ảnh khác. Dịch não tủy cho phép phát hiện các trường hợp viêm màng não, chảy máu dưới nhiện.
  1. Chẩn đoán Huyết khối tĩnh mạch não

Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và bằng chứng HKTMN trên chẩn đoán hình ảnh.

Chẩn đoán nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi là cần thiết để điều trị hỗ trợ. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào chúng ta cũng tìm thấy được nguyên nhân.

Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh như đau nửa đầu, viêm não, viêm màng não, nhồi máu não động mạch, áp xe não.

  1. Tiên lượng

    Chẩn đoán và điều trị huyết khối tĩnh mạch não ở giai đoạn sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đúng phác đồ, phần lớn bệnh nhân HKTMN có tiên lượng tốt, phục hồi hồi hoàn toàn hoặc để lại ít di chứng. Trong những trường hợp bệnh nặng, chẩn đoán muộn, đặc biệt khi đã có tổn thương nhu mô não rộng hoặc xuất huyết não lớn, tỷ lệ tử vong cao và tàn phế cao.