Điện thoại CSKH: 19008082 - 0886.234.222
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Thời gian làm việc: Khám bệnh: 7h-16h (Thứ 2-Thứ 6), 7h-12h (Sáng thứ 7), trừ nghỉ lễ ----- Tiếp nhận cấp cứu và điều trị nội trú 24/7, kể cả nghỉ lễ
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
CHẤT LƯỢNG HÀNG ĐẦU - PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU - NÂNG TẦM CAO MỚI
Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An > TIN TỨC > Tin y tế > Tác dụng giảm cân lâu dài của semaglutide ở bệnh nhân béo phì không mắc bệnh tiểu đường

Tác dụng giảm cân lâu dài của semaglutide ở bệnh nhân béo phì không mắc bệnh tiểu đường

Trong một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Y học Tự nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã đánh giá tác động của semaglutide đối với kết quả về cân nặng và nhân trắc học, cũng như tính an toàn và khả năng dung nạp ở người trưởng thành mắc bệnh béo phì nhưng không mắc bệnh tiểu đường, dựa trên chỉ số khối cơ thể (BMI) ban đầu khác nhau. ) 

Tỷ lệ béo phì toàn cầu (BMI ≥30 kg m -2 ) đã tăng gần gấp ba kể từ năm 1975. Mặc dù BMI tương quan với lượng mỡ trong cơ thể ở cấp độ dân số, nhưng nó có thể không phản ánh chính xác lượng hoặc sự phân bổ mỡ ở từng cá nhân. Chất béo dư thừa trong cơ thể, đặc biệt là mỡ nội tạng và mỡ lạc chỗ, gây ra bệnh tim mạch (CVD) và góp phần gây ra các bệnh mãn tính như tiểu đường và ung thư. Giảm cân có thể làm giảm những tác động này, với mức giảm vừa phải sẽ cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch và chất lượng cuộc sống. Đạt được mức giảm cân đáng kể chỉ bằng việc thay đổi lối sống đã là một thách thức, nhưng các loại thuốc như semaglutide đã cho thấy nhiều hứa hẹn. Cần nghiên cứu sâu hơn để hiểu tác động lâu dài, liều lượng tối ưu và tác dụng phụ tiềm ẩn của semaglutide ở nhiều nhóm dân cư có tình trạng sức khỏe khác nhau.

Về nghiên cứu 

Nghiên cứu hiện tại tuân thủ các quy định đạo đức và phân tích tác dụng của Semaglutide đối với bệnh tim và đột quỵ ở bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì (SELECT), một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm soát giả dược. SELECT đã đánh giá semaglutide tiêm dưới da 2,4 mg một lần mỗi tuần so với giả dược để giảm các biến cố bất lợi về tim ở những người mắc bệnh tim mạch và thừa cân hoặc béo phì mà không mắc bệnh tiểu đường. Được phê duyệt bởi các cơ quan quản lý và đạo đức, thử nghiệm bao gồm các bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên có chỉ số BMI từ 27 kg/m2 trở lên và đã xác định bệnh tim mạch. Tất cả những người tham gia cung cấp sự đồng thuận.

Được thiết kế bởi Novo Nordisk và Ban chỉ đạo học thuật, thử nghiệm bao gồm việc chỉ định ngẫu nhiên semaglutide hoặc giả dược. Liều khởi đầu là 0,24 mg mỗi tuần, tăng dần bốn tuần một lần lên mục tiêu 2,4 mg. Điều chỉnh liều được cho phép dựa trên khả năng dung nạp. Các nhà điều tra đã tuân theo các hướng dẫn điều trị y tế và tư vấn lối sống để quản lý bệnh tim mạch, mặc dù việc tư vấn không tập trung vào việc giảm cân.

Giới tính và chủng tộc được tự báo cáo và số đo cơ thể tuân theo các quy trình cụ thể. Các điểm cuối bao gồm những thay đổi về trọng lượng cơ thể, chu vi vòng eo (WC), tỷ lệ vòng eo trên chiều cao (WHtR) và tỷ lệ đạt được mức giảm cân đáng kể.

97,1% nhóm semaglutide và 96,8% nhóm giả dược đã hoàn thành thử nghiệm, với 30,6% và 27,0% ngừng điều trị tương ứng. Các phân tích thống kê, dựa trên nguyên tắc cố ý điều trị, sử dụng mô hình hiệp phương sai và phép tính đa biến cho dữ liệu bị thiếu, với các phân tích được thực hiện bằng phần mềm SAS.

Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu thu nhận 17.604 bệnh nhân, 72,3% là nam giới, từ 41 quốc gia trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 3 năm 2021, với độ tuổi trung bình là 61,6 tuổi và chỉ số BMI là 33,3 kg/ m2 . Các đặc điểm ban đầu của dân số đã được báo cáo trước đây. Đáng chú ý, tỷ lệ người châu Á thuộc nhóm BMI thấp cao hơn và tỷ lệ phụ nữ tăng lên khi nhóm BMI tăng. Loại BMI thấp hơn có liên quan đến tỷ lệ bệnh nhân có đường huyết bình thường cao hơn và nồng độ glycated hemoglobin thấp hơn. Mặc dù tỷ lệ bệnh nhân có cholesterol cao và tiền sử hút thuốc là tương tự nhau giữa các loại BMI, tỷ lệ bệnh nhân có mức protein phản ứng C nhạy cảm cao tăng lên ở các loại BMI cao hơn.

Quỹ đạo giảm cân theo phần trăm trung bình của semaglutide và giả dược trong 4 năm cho thấy việc giảm cân tiếp tục đến tuần 65 và được duy trì đến tuần 208. Ở tuần 208, nhóm dùng semaglutide giảm cân trung bình là 10,2%, so với 1,5% ở nhóm dùng semaglutide. nhóm giả dược. Phân tích đầu tiên trong quá trình điều trị cho thấy mức giảm cân trung bình là 11,7% ở nhóm semaglutide so với 1,5% ở nhóm giả dược ở tuần 208. Ở tuần 104, mức giảm cân ≥5%, ≥10%, ≥15%, ≥ 20% và ≥25% đạt được lần lượt là 67,8%, 44,2%, 22,9%, 11,0% và 4,9% trong số những người được điều trị bằng semaglutide, so với 21,3%, 6,9%, 1,7%, 0,6% và 0,1% đối với những người dùng giả dược.

Sự thay đổi về chu vi vòng eo phản ánh sự thay đổi về trọng lượng cơ thể, với mức giảm trung bình là 7,7 cm ở nhóm semaglutide so với 1,3 cm ở nhóm giả dược vào tuần 208. Trong nhóm dân số SELECT có BMI ban đầu <35 kg/m -2 , 15,0 % của nhóm semaglutide và 14,3% của nhóm giả dược ở dưới điểm giới hạn WC dành riêng cho giới tính và chủng tộc. Đến tuần 104, 41,2% nhóm dùng semaglutide giảm xuống dưới các điểm giới hạn này so với 18,0% của nhóm dùng giả dược. Lúc ban đầu, WHtR trung bình là 0,66, giảm 6,9% ở nhóm semaglutide so với 1,0% ở nhóm giả dược vào tuần 208.

Vào tuần 104, 52,4% bệnh nhân được điều trị bằng semaglutide đã cải thiện chỉ số BMI của họ so với 15,7% ở những người dùng giả dược. Tỷ lệ bệnh nhân béo phì (BMI ≥30 kg/m -2 ) giảm từ 71,0% xuống 43,3% ở nhóm semaglutide so với 71,9% đến 67,9% ở nhóm giả dược. Tính an toàn và khả năng dung nạp cũng được đánh giá, trong đó semaglutide có liên quan đến tỷ lệ tác dụng phụ nghiêm trọng (SAE) thấp hơn trên tất cả các loại BMI. Tỷ lệ SAE trên 100 năm quan sát ở nhóm semaglutide thấp hơn so với nhóm giả dược, không có sự khác biệt đáng kể về SAE gan mật hoặc đường tiêu hóa giữa hai nhóm.

Bs Lê Đình Sáng (Tóm dịch)

LINK BÀI BÁO GỐC: